Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2013

BÍ QUYẾT TRÁNH NGỘ ĐỘC THỰC PHẨM LÀ GÌ?

Ai trong chúng ta ít nhất cũng đã bị nhiễm độc thực phẩm, người nhẹ thì tự khỏi, người nặng phải đi bệnh viện. Vì thế, ngộ độc thực phẩm là nỗi ám ảnh của rất nhiều người. Khi bị ngộ độc thực phẩm, người bệnh không chỉ tốn tiền chạy chữa mà còn gây tổn hại cho sức khỏe, thậm chí là tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Ngộ độc thực phẩm là nỗi ám ảnh của nhiều người

Đâu là nguyên nhân?

Nhiễm vi sinh vật: Nguyên nhân này chiếm từ 33 - 49% các ca ngộ độc thực phẩm các ca ngộ độc thực phẩm. Vi sinh vật gây bệnh chủ yếu là các chủng Salmonella, E.Coli, Clostridium Perfringens, Listeria. Trong số các chủng này, vi khuẩn Salmonella (có trong thịt, nghêu, sò, gà chưa nấu chín, sữa sống, trứng sống...) là nguyên nhân của 70% vụ ngộ độc. Khuẩn Listeria (trong thịt ướp lạnh, chế phẩm sữa chưa tiệt trùng, thịt nguội...) ít gặp hơn nhưng lại khá nguy hiểm bởi chúng vẫn phát triển ngay cả ở nhiệt độ thấp (4-6oC); khuẩn Clostridium Perfringens hay phát sinh trong các món được nấu nướng và hâm nóng.

Nhiễm hóa chất: Chiếm từ 11 - 27%. Các hóa chất thường có mặt trong thực phẩm này là chất bảo quản thực phẩm, chất bảo vệ thực vật.

Độc tố tự nhiên trong thực phẩm: Chỉ chiếm từ 6 - 37,5% ca ngộ độc, nhưng lại rất nguy hiểm cho sức khỏe vì dễ dẫn đến sốc phản vệ và tử vong, như trường hợp ăn phải nấm độc hay cá nóc là ví dụ. Rất nhiều thực phẩm ẩn chứa đằng sau sự tươi ngon là liều thuốc độc hại cho sức khỏe. Chẳng hạn, măng tươi chứa chất xyanua (CN) có thể gây tử vong ở liều 50-90mg/kg; măng chua acid cyanhydric (HCN) có thể gây ngộ độc cấp tính; khoai tây mọc mầm hay khi vỏ đã chuyển sang màu xanh chứa ancaloid có thể gây ngộ độc cấp tính... Đặc biệt, do thời tiết nóng ẩm của nước ta nên nấm mốc trong thực phẩm có điều kiện phát triển rất nhanh. Không chỉ gây hỏng thực phẩm, nấm mốc còn sản sinh ra các độc tố nguy hiểm có thể gây ung thư gan.

Ngoài các nguyên nhân trên, có rất nhiều trường hợp ngộ độc thực phẩm không thể xác định được nguyên nhân.

Tác hại khi dùng thực phẩm nhiễm bẩn

Các triệu chứng đầu tiên của ngộ độc cấp tính thực phẩm là đau bụng, nôn mửa và tiêu chảy. Nặng hơn thì kèm theo các biểu hiện trên là rối loạn cảm giác, nhức đầu, mệt lả, hôn mê, liệt chi; thay đổi huyết áp, bí tiểu... Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh nhân rất dễ bị tai biến suy tuần hoàn cấp hay trụy tim mạch và tử vong.

Trong trường hợp bị nhiễm độc do kí sinh trùng hoặc do các chất độc chưa đủ mạnh... thì các triệu chứng sẽ diễn ra chậm hơn. Sự nhiễm độc đó được gọi chung là nhiễm độc tiềm ẩn. Nếu bị nhiễm liên tục có thể sau một thời gian sẽ dẫn đến ung thư, các rối loạn chức năng không rõ nguyên nhân, vô sinh, quái thai...

CÁCH GÌ NHẬN BIẾT SỚM VIÊM MỦ MÀNG PHỔI?

Viêm mủ màng phổi là một bệnh phức tạp, đa dạng và có thể gây nguy hiểm cho người bệnh. Viêm mủ màng phổi là hiện tượng viêm và ứ mủ trong khoang màng phổi. Nếu không phát hiện và điều trị kịp thời viêm mủ màng phổi có thể gây ra nhiều biến chứng nặng, nguy hiểm đến tính mạng và gây khó khăn cho việc điều trị.

Viêm mủ màng phổi có thể gây nguy hiểm cho người bệnh
Tại sao bị viêm mủ màng phổi?

Màng phổi gồm 2 lá: lá thành và lá tạng, giữa hai lá là khoang màng phổi. Bình thường, trong khoang màng phổi cũng có một ít dịch và rất ổn định (dịch sinh lý bình thường, khoảng 3ml) để cho màng phổi hoạt động dễ dàng, nhịp nhàng, trơn tru và là sự cân bằng các áp lực. Khoang màng phổi bình thường cũng là một khoang có áp lực âm. Khi bị viêm mủ màng phổi thì có thể là do bị viêm ngay tại khoang màng phổi (viêm thứ phát). Ổ viêm này nếu không phát hiện sớm và điều trị ngay thì nó sẽ phát triển lan ra các vị trí khác của màng phổi và gây mưng mủ.

Hầu hết viêm mủ màng phổi là do nguyên nhân thứ phát, tức là sau áp-xe phổi hoặc viêm phổi, giãn phế quản, dị vật phổi, tắc mạch phổi bội nhiễm hoặc do ung thư phổi. Các quá trình viêm này xảy ra liên tục càng ngày càng tiến triển (nếu không được điều trị) rồi chúng lan vào hệ thống máu và bạch huyết (gây nhiễm khuẩn máu) đi đến màng phổi tạo nên các ổ viêm và tiến triển thành mủ. Một số bệnh ở thành ngực (vết thương lồng ngực do chấn thương, viêm xương sườn, áp-xe vú...) hoặc bệnh ở trung thất (rò rỉ khí phế quản, áp-xe hạch trung thất, rò thực quản) hoặc do tổn thương bộ phận nào đó dưới cơ hoành (áp-xe dưới cơ hoành, áp-xe gan, áp-xe quanh thận...) cũng có thể dẫn đến viêm mủ màng phổi.

Căn nguyên để gây nên mủ màng phổi là do vi sinh vật (vi khuẩn, virut và vi nấm), riêng vi khuẩn chiếm tỷ lệ khoảng từ 5 - 10% viêm mủ màng phổi. Viêm mủ màng phổi thông thường hay gặp là do vi khuẩn phế cầu (S.pneumoniae) nhưng ở các nước đang phát triển thì viêm mủ màng phổi chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (S.aureus). Đây là loại vi khuẩn có độc lực mạnh, gây bệnh bằng cả nội và ngoại độc tố cho nên bệnh cảnh lâm sàng rất nặng. Thêm vào đó, tụ cầu vàng là loại vi khuẩn đa đề kháng kháng sinh cho nên rất khó khăn cho việc lựa chọn kháng sinh thích hợp để điều trị nếu như không tiến hành phân lập vi khuẩn và thực nghiệm kháng sinh đồ. Hiện nay, người ta gặp căn nguyên vi khuẩn gây viêm mủ màng phổi rất đa dạng, ngoài tụ cầu vàng, phế cầu, liên cầu (S.pyogenes) thì còn gặp các vi khuẩn gram âm như Salmonella, Pseudomonas aeruginosa (trực khuẩn mủ xanh), Klebsiella pneumoniae, E.coli, Proteus hoặc vi khuẩn lao (M. tuberculosis). Tất nhiên không phải vi khuẩn nào cũng có thể xâm nhập màng phổi và gây bệnh mà phải loại có độc lực mạnh, số lượng xâm nhập nhiều và sức đề kháng của cơ thể yếu.

Biểu hiện rất dễ bỏ qua

Viêm mủ màng phổi có thể xảy ra cấp tính nhưng cũng có thể xảy ra dạng mạn tính. Trong trường hợp cấp tính, bệnh xảy ra đột ngột, rầm rộ, sốt cao, đau đầu, da xanh, mệt mỏi, gầy sút nhanh do nhiễm khuẩn, nhiễm độc, do mất nước và chất điện giải. Tuy vậy, cũng có thể gặp dạng giống cảm cúm nên người bệnh hoặc người nhà dễ bỏ qua dẫn đến bệnh nặng.

Thứ Năm, 29 tháng 8, 2013

BỆNH GIANG MAI CÓ MẤY GIAI ĐOẠN?

Bệnh giang mai:

Thời gian ủ bệnh khoảng 3-4 tuần, sớm nhất là 10 ngày, muộn nhất là 90 ngày.sau đó bệnh giang mai diễn biến theo ba giai đoạn:


Giang mai
* Giai đoạn 1 - Rất quan trọng để phát hiện và điều trị kịp thời. Biểu hiện chính là vết loét giang mai tại bộ phận sinh dục như ở quy đầu (với nam), môi lớn, môi bé, âm đạo, cổ tử cung (với nữ). Vết loét có đặc điểm nông, hình tròn hay bầu dục, bờ nhẵn, màu đỏ, không ngứa, không đau, không có mủ; đáy vết loét thâm nhiễm cứng và kèm theo nổi hạch hai bên vùng bẹn, cứng và cũng không đau. Vết loét này có thể tự biến đi sau 6 đến 8 tuần lễ kể cả không điều trị nên nhiều người tưởng lầm là khỏi bệnh nhưng thực sự là vi khuẩn lúc đó đã vào máu, bệnh vẫn tiếp tục phát triển với những biểu hiện khác.

* Giai đoạn 2 – Thường bắt đầu sau khi có vết loét từ 6 đến 9 tháng, chủ yếu biểu hiện bằng các tổn thương trên da với các nốt ban màu hồng như hoa đào (đào ban), vết sẩn, nốt phỏng nước, vết loét ở da và niêm mạc.

* Giai đoạn 3 - Giang mai phát triển trong các phủ tạng như não, gan, cơ bắp tim mạch..., gây nên các bệnh cảnh khác nhau tùy bộ phận cơ thể bị nhiễm giang mai.

Chẩn Đoán

1.Chẩn đoán (+) dựa vào:

-Triệu chứng lâm sàng đã mô tả ở trên

-Triệu chứng cận lâm sàng

Trong giai đoạn sớm, chẩn đoán bệnh giang mai tương đối phức tạp vì cơ thể chưa tạo ra kháng thể mà Xoắn khuẩn giang mai lại không thể nuôi cấy trong các môi trường nhân tạo. Cách chẩn đoán tương đối chính xác là Soi trên kính hiển vi bệnh phẩm lấy từ các vết loét giang mai (chancre) tìm Xoắn khuẩn giang mai .
Phương pháp khác thường sử dụng rộng rãi hơn, nhưng cho giai đoạn 2 trở lên (để cơ thể có đủ thời giờ để tạo ra kháng thể ) là thử kháng thể trong máu Bệnh nhân như:Xét nghiệm RPR,VDRL. Phương pháp này cũng có thể giúp theo dõi sự đáp ứng của bệnh với điều trị.

Ở các trường hợp giang mai thần kinh, cần phải làm Xét nghiệm kháng thể Xoắn khuẩn giang mai trong dịch não tủy (RPR dịch não tủy).

Trường hợp của bạn, bạn không có các biểu hiện lâm sàng nêu trên cộng với khi xét nghiệm RPR,VDRL âm tính , TPHA : Âm tính, Interpretation : Âm tính thì bạn yên tâm là bạn không mắc Giang mai.

Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

YẾU SINH LÝ VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN?

YẾU SINH LÝ LÀ GÌ ?

Là một tình trạng không có khả năng cương cứng dương vật, hoặc không duy trì được tình trạng đó để đưa nó vào âm đạo trong lúc giao hợp do đó không làm thoả mãn được bạn tình. Nếu đúng như định nghiã này thì vấn đề điều trị, tái lập khả năng "Sinh Lý" ấy phải được đặt ra cho bệnh nhân và người thầy thuốc.

Yếu sinh lý là tình trạng không có khả năng cương cứng dương vật...
Trong báo cáo ở Tiểu Bang Massachusetts Hoa Kỳ được tiến hành từ năm 1987-1989 trên 1290 người thì có 52% là có những biểu hiện Yếu Sinh Lý trong đó :

10% bị bất lực hoàn toàn

25% Yếu sinh lý trung bình

17% Có rối loạn sinh lý nhẹ

Theo tính toán và dự đoán của ISIR (International Society for Impotance Research) thì đến năm 2005 ở Hoa Kỳ có 24 triệu người từ 40-69 tuổi mắc tình trạng Yếu Sinh Lý và toàn Thế Giới có khoảng 411 triệu người. Trong hội nghị ISIR Châu Á –và Thái Bình Dương tổ chức tại Mã Lai tháng 10 năm 1997 thì ước tính tại vùng này có khoảng 190 triệu người và ở nước ta theo phỏng đoán hai triệu ngưới bị tình trạng này.

YẾU SINH LÝ CÓ LIÊN QUAN ÐẾN :

TUỔI TÁC: Càng lớn tuổi thì càng dể bị hơn. Ở tuổi 70 số người Yếu sinh Lý gấp đôi tuổi 40

CÁC BỆNH MÃN TÍNH:

Theo GS Trạch thì tình trạng yếu sinh lý chiếm một tỷ lệ khá cao trong bệnh Tiểu đường.

Tình trạng này cũng thấy ở những người mắc bệnh Tim mạch, Suy thận, suy gan, bệnh thần kinh, tâm thần…

Các bệnh về nội tiết như cường giáp, tăng prolactin trong maú, . .

Những bệnh do huyết quản, khiếm khuyết cấu trúc dương vật. .

Bệnh do lão hóa

PHẨU THUẬT: Phẩu thuật ở vùng cột sống, vùng chậu, cắt tiền liệt tuyến…

CHẤN THƯƠNG VÀ DƯỢC PHẨM :

Chấn thương vùng đầu, cột sống, vùng sinh dục…Thuộc men như thuốc an thần, thuốc trị bệnh tâm thần, trị bệnh cao huyết áp, thuốc dạ dày, lợi tiểu….

RƯỢU VÀ THUỐC LÁ : Là những nguyên nhân đáng lo ngại, chỉ cần 1 xị, hoặc vài chục điếu thuốc trong một ngày kéo dài trong vài năm là có thể đưa đến tình trạng suy yếu sinh lý.

Trong những thập niên trước vấn đề Yếu sinh lý được cho có nguyên nhân tuyệt đại đa số là do Tâm Lý, điều đó cho đến nay vẩn còn đúng, tuy nhiên tuổi thọ càng ngày càng cao, số người lớn tuổi mỗi lúc mỗi nhiều tình trạng Yếu sinh lý khá phổ biến trong lứa tuổi này, lại thêm các kỷ năng chẩn đoán bằng các dụng cụ Y khoa tối tân hiện đại cho phép người ta hiểu biết về cơ chế cương của dương vật hơn như sự giản nở các xoang tỉnh mạch, đo được lưu lượng máu đưa từ động mạch đến dương vật, biết được sự tắt nghẽn động-tỉnh mạch, biết cơ chế kiểm soát cương của hệ thần kinh…. qua các xét nghiệm như đo nồng dộ testosteron trong máu, trong nước tiểu…. các test cương dương vật về đêm, chụp thể hang có cản quang, chụp động mạch dương vật…. Ðã giúp cho thầy thuốc có nhiều dữ kiện để chẩn doán chính xác hơn.

Yếu Sinh lý có thể đơn thuần do Tâm Lý, cũng có thể có nguồn gốc bệnh thực thể như nghẽn tỉnh mạch dương vật, hay bệnh tiểu đường, do uống thuốc trị cao huyết áp, do chấn thương, do nghiện rưọu, thuốc lá v. v…hoặc do phối hợp cả hai nguyên nhân ấy.

Từ những nhận định đó cho thấy việc điều trị Yếu sinh Lý phải là quyết định của một Tổ Hợp Y Khoa bao gồm các chuyên gia về Tâm Thần, Nội Tiết, Niệu Khoa, Giải Phẩu, Giáo dục giới tính….

Một người có vấn đề Yếu Sinh Lý phải được khám nội khoa tổng quát, được thiết lập một bệnh án đầy đủ và tiền sử về vấn đề Tình Dục, làm các xét nghiệm… Biện pháp điều trị là kết qủa chẩn doán từ cuộc hội chẩn của Tổ Hợp Y Khoa này.

CAI RƯỢU BIA NHƯ THẾ NÀO?

Trước hết chúng tôi xin khẳng định là hiệu quả của việc cai rượu, bia và thuốc lá phụ thuộc phần lớn vào quyết tâm cai nghiện.

Phải có ý chí,quyết tâm mới bỏ được bia rượu
Ngoài ra, mời bạn tham khảo bài viết của TS.DS Nguyễn Hữu Đức, hy vọng bạn sẽ rút ra được cách cai rượu bia cho chính bản thân mình.

Thuốc cai rượu Espéral chứa dược chất disulfiram có tác dụng làm cho người uống rượu “chê” thậm chí sợ rượu theo cơ chế sau đây: Khi uống vào cơ thể, disulfiram có tác dụng ngăn chặn sự chuyển hóa rượu ở gan, chỉ cho rượu chuyển hóa thành hợp chất acetaldehid rồi thôi, acetaldehid là chất độc không được chuyển hóa tiếp mà tích lũy lại trong cơ thể làm cho người nếu đã uống thuốc mà còn uống rượu bị ngộ độc: Tim đập mạnh, mặt bừng đỏ, đỗ mồ hôi, thậm chí ói mửa, hạ huyết áp, nhức đầu dữ dội…

Chính tác dụng gây ngộ độc bởi chất độc acetaldehid (thực chất là chất chuyển hóa từ rượu) gây vật vã dữ dội làm cho người uống rượu ghê sợ không dám uống rượu nữa.

Trong thời gian qua, ở TP.HCM đã xảy ra tình trạng một số dùng disulfiram để cai rượu, thậm chí có một số bà vợ lén cho ông chồng nghiện rượu của mình uống thuốc để mà chừa rượu. Kết quả không như ý muốn mà có khi người dùng, nhất là ông chồng không biết đã dùng thuốc cứ uống rượu nhiều vào, bị ngộ độc rất nặng, phải đi cấp cứu.

Ở nước ngoài, người nghiện rượu thường được cai rượu trong bệnh viện và khi dùng thuốc disulfiram phải được các bác sĩ theo dõi chặt chẽ để phòng ngừa tai biến trầm trọng có thể xảy ra. Để chữa nghiện rượu, thuốc phải dùng lâu dài (để đạt phản xạ có điều kiện, nhìn thấy rượu là sợ) và đòi hỏi người nghiện phải có ý chí, quyết tâm bỏ rượu.

Thời gian thuốc cho tác dụng khoảng 24 giờ, có khi đến 48 giờ. Vì vậy, sau khi uống thuốc phải cố không uống rượu trong nhiều ngày. Thuốc nói chung, nếu dùng lâu dài đều có phần tác hại.

Disulfiram cũng thế, khi dùng để cai rượu, phải tính dùng trong thời gian ngắn cộng thêm quyết tâm bỏ rượu để sao người dùng thuốc bỏ không uống rượu nửa trong thời gian càng ngắn càng tốt.

DƯƠNG VẬT RÁT VÀ CÓ TIẾT RA CHẤT MÀU TRẮNG ĐỤC LÀ HIỆN TƯỢNG GÌ?


Biểu hiện bệnh có thể nằm trong 1 những bệnh sau:

Ảnh minh họa
1. Bệnh Chlamydia:

- Triệu chứng:Tiết dịch niệu đạo số lượng ít hoặc vừa, hiếm khi có nhiều. Dịch có thể trong, nhầy, trắng đục hoặc màu vàng. Có khi chỉ biểu hiện ướt hoặc dính ở miệng sáo hoặc không có triệu trứng gì. Thường kèm theo khó đi tiểu, ngứa, dấm dứt trong niệu đạo.

- Thời gian ủ bệnh: Từ 7 đến 21 ngày.

- Hậu quả lâu dài đối với đàn ông: Viêm niệu đạo, viêm mào tinh hoàn.

2. Bệnh nấm Candida đường sinh dục:

- Triệu chứng: Thường ít biểu hiện triệu chứng. Biểu hiện thường gặp là cảm giác bỏng rát qui đầu, ngứa, qui đầu và bao da đỏ, có nhiều vết rạn nứt và nhiều chất nhày màu vàng trắng.

- Hậu quả lâu dài đối với đàn ông: Viêm niệu đạo.

3. Bệnh lậu (Gonorrhea):

- Triệu chứng: Đối với Nam thường có các triệu chứng: Mủ chảy từ trong niệu đạo, số lượng nhiều, màu vàng đặc hay vàng xanh, đái buốt có thể kèm theo đái dắt. Viêm toàn bộ niệu đạo: đái dắt, đái khó kèm theo sốt, mệt mỏi. Bệnh lậu ở phụ nữ thường không thấy có triệu chứng;

- Thời gian ủ bệnh: Từ 2-5 ngày.

- Hậu quả lâu dài đối với đàn ông: Viêm mào tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt, viêm túi tinh và ống dẫn tinh, vô sinh, viêm khớp, nhiễm khuẩn huyết.

4. Bệnh Mụn rộp:

- Triệu chứng: Hơn một nửa số bệnh nhân không có triệu chứng hoặc triệu trứng rất nhẹ. Thường là bệnh nhân cảm thấy đau và ngứa ở sinh dục do có các mụn nước. Các mụn nước này nhanh chóng vỡ ra để lại vết loét nông, đau và các vết này liên kết với nhau thành vết lớn có bờ hình vòng cung. Khi các mụn nước này vỡ, đóng vẩy và mất đi tuy nhiên vi rut vẫn sống bên trong các dây thần kinh và thường tái phát. nhiều lần trong suốt quãng đời còn lại của bệnh nhân. Hầu hết bệnh nhân có tổn thương ở sinh dục ngoài, nhưng có khi tổn thương ở trong niệu đạo gây nên tiểu khó, đau và có dịch trong, nhày.

Do không có sự thăm khám và xét nghiệm vì vậy chúng tôi khuyên bạn nên đến ngay cơ sở Y tế để được khám và điều trị.

HIỆN TƯỢNG DI TINH?

Di tinh là hiện tượng tinh dịch xuất tự nhiên, không có khoái cảm mà chỉ thấy tinh dịch chảy ra ướt quần, nếu hiện tượng này xảy ra ít chỉ vài ba lần trong tháng mà không ảnh hưởng gì đến sức khỏe chung thì có thể chấp nhận được. Nhưng cũng có thể nặng, ngày nào cũng thấy tinh dịch chảy ra tự nhiên, tình trạng này ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như tâm lý bệnh nhân thì đây cũng là một dạng bệnh lý cần được điều trị.

Di tinh là một dạng bệnh lý cần được điều trị
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến di tinh, như do ban ngày xem quá nhiều những tranh ảnh, phim gây kích thích giới tính; ngoài ra chăn mền, áo quần dầy quá, chặt quá, vệ sinh vùng cơ quan sinh dục không sạch sẽ gây bẩn ngứa cũng có thể gây ra hiện tượng di tinh; cũng có những trường hợp do tâm lý căng thẳng như thi cử, thi đấu... mà xảy ra di tinh.

Thông thường với những lần di tinh ít, thỉnh thoảng mới xảy ra thì cần khắc phục những yếu tố trên và sau khi có gia đình các hoạt động tình dục được quân bình thì hiện tượng di tinh tự nhiên cũng biến mất. Trong trường hợp di tinh quá nhiều lân trong tuần, trong ngày hay sau khi kết hôn mà vẫn còn hiện tượng di tinh với tần suất nhiều lần thì đó là một phản ứng của bệnh trạng.

Những người này thường kèm theo trạng thái tinh thần mệt mỏi, chân tay vô lực…, làm ảnh hưởng nghiêm trong đến sức khỏe. Những trạng thái này có thể do có sự bất thường ở cơ quan sinh dục, như do giao hợp quá nhiều lần dẫn đến thân thể hư nhược, có khi gặp ở những người quá chú tâm đến vấn đề tình dục, làm sự hưng phấn tình dục ở mức quá cao.

Người mắc phải những chứng này cũng không nên quá hoang mang, có thể đến khoa nam học để được tư vấn cụ thể. Ngoài ra hiện tượng này nếu nhẹ thì chỉ cần có chế độ ăn uống, dinh dưỡng và thể dục thể thao hợp lý, có lối sống lành mạnh, tránh căng thẳng tâm lý quá mức cũng có thể tự hết mà không cần điều trị.

VIÊM KHỚP,ĐIỀU TRỊ?

Hệ thống vận động của con người bao gồm hệ thống xương, cơ và khớp, khi một trong ba bộ phận này bị tổn thương do bất cứ một nguyên nhân gì đều ảnh hưởng đến chức năng vận động của cơ thể. Cũng như xương và cơ, cơ thể chúng ta có rất nhiều khớp, mỗi khớp được tạo nên bởi đầu xương, sụn, màng hoạt dịch và bao khớp. Khi tổn thương những bộ phận này đều ảnh hưởng đến chức năng của khớp. Do đó bệnh lý của khớp đều bị tác động bởi những thành phần đó.

Viêm khớp
Viêm khớp không phải là một bệnh mà là một triệu chứng với các biểu hiện: sưng, nóng, đỏ, đau tại một khớp hoặc nhiều khớp.

Nguyên nhân có thể: Do vi khuẩn: lao, tụ cầu, lậu cầu, giang mai, nấm, liên cầu, HIV...

Không phải do vi khuẩn: gout, giả gout, sau chấn thương, viêm khớp dạng thấp, viêm khớp phản ứng, viêm khớp mạn tính thiếu niên, thoái hóa khớp...

Chẩn đoán nguyên nhân của viêm khớp không đơn giản, đôi khi cần những phương tiện hiện đại như: nội soi khớp, chụp CT, chụp cộng hưởng từ trường hoặc làm những xét nghiệm miễn dịch... và đòi hỏi người thầy thuốc phải có trình độ chuyên khoa sâu.

Điều trị viêm khớp: gồm dùng thuốc và vật lý liệu pháp. Khi điều trị viêm khớp thì quan trọng là phải biết được nguyên nhân để có biện pháp điều trị hữu hiệu. Tùy theo từng nguyên nhân mà có những loại thuốc thích hợp (Ví dụ: viêm khớp do lao: dùng những thuốc chống lao đặc hiệu; viêm khớp do lậu cầu: dùng kháng sinh đặc hiệu; gout: thuốc chống viêm, colcicine, allopurinol...)

Điều trị viêm khớp không đơn giản, các phác đồ điều trị không giống nhau, tùy theo nguyên nhân, có những bệnh phải được điều trị và theo dõi suốt đời.

Khi tình trạng viêm khớp trở nên mạn tính, không được điều trị đúng theo nguyên nhân bệnh thì hậu quả sẽ rất nặng nề, màng hoạt dịch khớp bị viêm dày, xơ hóa, sụn khớp bị loét trợt, khe khớp sẽ bị hẹp lại, các đầu xương dưới tổ chức sụn cũng bị bào mòn và hủy xương... Tất cả những tổn thương đó sẽ làm cho khớp bị biến dạng, dần dần sẽ dính khớp, dẫn đến teo cơ và mất khả năng vận động của khớp.

Khi có biểu hiện viêm khớp, cần đến thầy thuốc chuyên khoa khớp để khám xác định nguyên nhân. Bất cứ một người thầy thuốc nào cũng có thể chẩn đoán được người bệnh có bị viêm khớp hay không, nhưng vấn đề đặt ra là phải chẩn đoán được nguyên nhân của hiện tượng viêm khớp đó là gì?

Khi đã được chẩn đoán là một bệnh khớp mạn tính như: viêm khớp dạng thấp, gout, thoái hóa khớp... thì người bệnh phải được theo dõi và điều trị suốt đời. Phải cộng tác với thầy thuốc, tuân theo những lời khuyên của thầy thuốc để có hiệu quả điều trị cao nhất. Tuyệt đối không nên tự mua thuốc để điều trị, nhất là corticoid (pretnisolon, dexamethason,...) hoặc đến khám thầy lang để dùng thuốc nam trong khi chưa được xác định rõ nguyên nhân của biểu hiện viêm khớp đó. Và không được tiêm một cách bừa bãi vào khớp.

Giữ gìn và bảo vệ khớp: Hãy tập luyện thường xuyên để có một khớp khỏe mạnh, các cơ và các dây chằng quanh khớp chắc hơn và mật độ xương sẽ tăng. Khi phải mang vác vật nặng, cần mang vác ở tư thế cân bằng, không được xoắn vặn người. Giảm nguy cơ béo phì, vì nếu trọng lượng cơ thể càng tăng sẽ làm khớp phải chịu tải nhiều dễ gây nguy cơ thoái khớp và thương tổn khớp. Giữ khớp luôn ấm, tránh để khớp bị lạnh. Có chế độ ăn hợp lý, đầy đủ chất, giàu canxi và vitamin.

NẤM MÓNG TAY VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ?

Nguyên nhân gây bệnh nấm móng tay:

Do nhiều loại vi nấm gây ra, có thể kể hai nhóm chính là: Nấm sợi tơ (Dermatophytes) và nấm hạt men (Candida). Người bị bệnh này, do tay chân thường xuyên bị ướt tạo điều kiện cho vi nấm phát triển và gây bệnh.

Nấm móng tay


Triệu chứng lâm sàng

- Bề mặt móng bị xù xì, phủ một lớp vảy mịn như cám, có lằn sọc dọc hay ngang. Chỗ bị tổn thương có màu hơi vàng, hay nâu đen.

- Bên dưới móng cũng có thể bị tổn thương và móng bị tróc.

- ít khi cả mười móng tay hoặc mười móng chân đều bị bệnh. Trên từng móng, tổn thương tấn công từ bờ vào và không bị viêm quanh móng (nếu do Dermatophytes) hoặc từ gốc móng đi ra và có viêm quanh móng (nếu do nấm Candida).

- Khi viêm quanh móng sẽ rất đau, sưng đỏ và có mủ.

Ðiều trị

1. Thuốc bôi tại chỗ: Dùng một trong các thuốc bôi sau: kem hoặc pommade Ketoconazol (Nizoral), Canesten, Trosyd, Exoderil, Naftin v.v...

Cách bôi: Sau khi rửa và cạo sạch chỗ tổn thương móng, bôi thuốc lên bề mặt móng và quanh móng, mỗi ngày 2-3 lần, ít nhất trong 3 tháng.

2. Thuốc uống: Có thể dùng: Griséofulvine (chỉ có tác dụng trên nấm sợi tơ), Nizoral, Lamisil,... (có tác dụng trên cả hai loại nấm). Nhưng phải có sự chỉ định và hướng dẫn của bác sĩ.

Ðể phòng ngừa tái phát, nếu có thể nên thay đổi việc làm hoặc mang bao tay khi làm việc để tránh móng bị ướt.

Tóm lại, nấm móng là một bệnh tuy không nguy hiểm nhưng làm mất vệ sinh, thẩm mỹ và rất khó điều trị. Vì vậy cần phải điều trị sớm và đúng phương pháp. Bạn nên đi khám tại Bệnh viện Da liễu TƯ để được điều trị kịp thời và hiệu quả. Không tự ý sử dụng bất kỳ loại thuốc uống hoặc thuốc bôi nào khi chưa có chỉ định của Bác sĩ!

NGUYÊN NHÂN,CÁCH ĐIỀU TRỊ BỆNH MẤT NGỦ?

Có nhiều nguyên nhân gây mất ngủ, có thể chỉ là những lo âu hay căng thẳng nào đó trong đời sống hàng ngày chưa được giải quyết ổn thỏa; Những hành vi cá nhân như hút thuốc lá, uống cà phê nhiều, thay đổi múi giờ khi đi xa, làm việc ca đêm, ăn quá nhiều quá no trong đêm; hoặc những bệnh lý thực thể đều có thể gây mất ngủ.

Lo âu,căng thẳng dẫn đến mất ngủ
Có thể phân ra 2 nhóm nguyên nhân gây mất ngủ như sau:

1. Mất ngủ do sinh hoạt

- Do hút thuốc lá, uống nhiều cà phê, do ăn nhiều nặng bụng trong đêm, ăn nhiều chất kích thích...

- Do rối loạn lịch thức ngủ trong ngày, như lịch làm việc thay đổi bất thường, làm việc theo ca không thường xuyên, do thay đổi múi giờ chênh lệch như khi đi du lịch đến các vùng có mức chênh lệch múi giờ từ 6-24 giờ.

- Do căng thẳng lo âu nhiều trong học tập, làm việc, trong cuộc sống hàng ngày.

- Do phân bổ giờ giấc ngủ không hợp lý, ngủ ngày quá nhiều.

Ngoài ra, theo sự phát triển tâm sinh lý ở mỗi người, chu kỳ thức ngủ sẽ thay đổi dần theo tuổi tác. Ở người cao tuổi, thời gian ngủ sẽ ít dần, có khuynh hướng ngủ muộn hơn và thức dậy sớm hơn. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng nhất là chất lượng của giấc ngủ, sau khi ngủ dậy phải cảm thấy tinh thần sảng khoái, phấn chấn, thích làm việc.

2. Mất ngủ do nguyên nhân thực thể

Do dùng thuốc để điều trị bệnh: Như các thuốc điều trị đau đầu Migrain có chứa cafein, thuốc chống viêm như corticoide, thuốc lợi…

Do bệnh lý: Các bệnh lý gây mất ngủ như đau đầu do viêm xoang, do tăng huyết áp, đau do viêm loét dạ dày tá tràng, đau do Zona, đau do kích thích thần kinh, đau trong bệnh khớp xương v.v... Việc điều trị phải chú ý vào nguyên nhân gây bệnh.

Do loạn tâm thần chức năng hoặc thực thể, hoặc do trầm cảm.

ĐIỀU TRỊ CHỨNG MẤT NGỦ

Điều trị chứng mất ngủ chủ yếu là điều trị triệu chứng, kết hợp với điều trị nguyên nhân nếu xác định được nguyên nhân gây mất ngủ. Vấn đề chẩn đoán xác định cũng như chỉ định điều trị nên theo ý kiến của thầy thuốc.

Về nguyên tắc điều trị:

1. Loại bỏ những nguyên nhân chủ quan gây mất ngủ

Nếu cố gắng tìm hiểu, người bệnh sẽ biết một phần nguyên nhân gây mất ngủ, thí dụ uống cà phê quá nhiều vào buổi tối hoặc trước khi đi ngủ, ăn quá nhiều chất cay nóng, ăn quá no vào buổi tối, đi du lịch đến nơi có sự thay đổi múi giờ quá lớn, do căng thẳng trong công việc... Sau khi tìm biết được nguyên nhân, người bệnh có thể sẽ tự điều chỉnh để ngủ được mà không cần nhờ đến thuốc.

2. Vệ sinh giấc ngủ

Nên tạo tâm trạng thư thái để dễ dàng đi vào giấc ngủ, giường ngủ cần đặt nơi thoáng mát, chăn màn sạch sẽ v.v...

3. Dùng thuốc ngủ, kết hợp với dùng thuốc điều trị nguyên nhân gây bệnh

Theo y học cổ truyền (YHCT), việc điều trị cũng theo các nguyên tắc như trên, tuy nhiên ngoài thuốc, YHCT còn có các phương pháp không dùng thuốc như châm cứu, dưỡng sinh để giúp cho giấc ngủ đến dễ dàng hơn.

a. Không dùng thuốc:

Dưỡng sinh: Tập các động tác như thư giãn, thở 4 thì, động tác tam giác, xoa đầu mặt cổ, bấm huyệt (Xoa, day, bấm huyệt Nội quan, Túc tam lý, Tam âm giao).

b. Dùng thuốc:

A. Dùng theo kinh nghiệm: Để chỉ định điều trị, cần phải có chẩn đoán thật chính xác của các nhà chuyên môn. Tuy nhiên, có một số cây cỏ là rau ăn vừa có thể dùng làm thuốc và không độc. Chẳng hạn như hạt sen, long nhãn, mật ong, đậu xanh, đậu đen, táo tàu... có tác dụng an thần, trị mất ngủ; Một số thức ăn như chuối, các loại hạt quả, đậu phộng (lạc)... giúp điều hòa giấc ngủ.

Các loại cây cỏ như lạc tiên (chùm bao, nhãn lồng) có thể dùng riêng, luộc hoặc hấp và dùng ăn như rau giúp ngủ ngon, hoặc phối hợp với lá dâu tằm, lá vông, tim sen nấu nước uống trị mất ngủ; Trúc diệp (lá tre); Toan táo nhân (hột trái táo ta, táo chua) nấu nước uống thay nước trà, giúp giấc ngủ mau đến, có thể xem là một loại thuốc ngủ.

B. Dùng theo đối chứng lập phương:

a. Mất ngủ do làm việc quá sức hoặc suy nghĩ lo âu căng thẳng, kèm theo là biểu hiện hay hốt hoảng, thấp thỏm lo âu, tim hồi hộp, hay quên, chân tay mỏi rũ, ăn uống kém, sắc da không tươi nhuận, cả đêm không ngủ được, hoặc lúc ngủ lúc thức, hay nằm mơ, dễ tỉnh giấc.

Bài thuốc: Củ mài sao vàng 20g; Long nhãn 10g; Hạt sen để cả tim (sao) 20g; Lá dâu 10g; Táo nhân (sao) 10g; Lá vông 10g; Bá tử nhân 10g; Sắc uống mỗi ngày.

b. Mất ngủ kèm theo triệu chứng buồn bực, ù tai, đau lưng, uể oải không muốn làm việc, nóng nảy bứt rứt, có cảm giác bốc hỏa lên đầu mặt, đau đầu choáng váng, tâm phiền miệng khát, đêm ra mồ hôi trộm...
Dùng bài thuốc: Đậu đen 20g; Mè đen 10g; Hạt sen để cả tim (sao) 20g; Lá dâu 10g; Lá vông 20g; Vỏ núc nác 6g; Lá dâu tằm 20g; Lạc tiên 10g; Thảo quyết minh 10g.

c. Người nhút nhát, hay cáu gắt, hư phiền, ngủ không yên, hay chiêm bao vớ vẩn.

Bài thuốc: Hạt sen 40g; Táo nhân sao đen 40g.

d. Mất ngủ kèm theo đầy tức vị quản, ợ hơi, khó chịu hoặc ăn ít, đại tiện không thông hoạt, bụng đau, chân tay bủn rủn.

Bài thuốc: Trần bì 10g; Hương phụ 12g; La bạc tử 10g; Mộc hương 15g; Chỉ thực 10g.

CÁCH ĐIỀU TRỊ BỆNH HẮC LÀO?

Hắc lào còn gọi là bệnh lác. Đây là bệnh do vi nấm cạn gây nên thuộc nhóm dermatophytes, hay gặp nhất là hai loại trychophyton và epidermophyton.

Dấu hiệu của hắc lào...
Dấu hiệu nổi bật nhất của bệnh là ngứa, nổi mẩn đỏ, có mụn nước, vùng có nấm thường tròn như đồng tiền. Cảm giác ngứa ngáy rất khó chịu ở vùng da bị tổn thương, cả ngày lẫn đêm, ngứa nhiều hơn khi về đêm, đổ mồ hôi, thời tiết nóng bức... Nổi mẩn đỏ một vùng có giới hạn rõ, trên bề mặt xuất hiện những mụn nước, tập trung ở phần rìa vùng nổi mẩn. Bệnh có thể gặp ở bẹn, chân tay, mặt, bụng, ngực...
 Nếu không điều trị kịp thời bệnh sẽ lây sang những vị trí khác của cơ thể, tăng mức độ tổn thương trên da, chàm hóa hoặc dễ dàng lây sang người khác do tiếp xúc trực tiếp hoặc lây qua quần áo.

Điều trị bệnh như thế nào?

Bệnh hắc lào tuy gây nhiều khó chịu cho người bệnh nhưng chữa trị không khó. Nhưng nếu dùng thuốc không đúng thuốc quá mạnh, bôi sang cả vùng da lành, da non thì sẽ gây ra tình trạng phỏng, chảy nước vùng bôi thuốc, thậm chí nếu dùng theo lời mách bảo không đúng còn gây nhiễm khuẩn, sưng đau.

Những loại thuốc cổ điển như ASA, BSA, BSI... cũng có tác dụng tốt nhưng gây lột da nhiều, đau rát, có thể làm sạm da. Hiện nay đã có những loại thuốc mới, có thể bôi hoặc uống. Thuốc bôi như ecoconazol, miconazol, clotrimazol... Những thuốc này có ưu điểm là không có màu, mùi thơm, không gây lột da, không sưng đau nhưng cũng có thể gây ra những dị ứng nhẹ. Những dị ứng này sẽ hết khi ngừng dùng thuốc. Trong trường hợp bệnh tái phát nhiều lần có thể phải dùng thuốc chống nấm dạng uống. Tuy nhiên việc dùng thuốc gì và liều lượng như thế nào cần phải được thầy thuốc chuyên về da liễu khám và chỉ định, nếu tự ý dùng có thể sẽ xảy ra những tác dụng phụ nguy hiểm.

Phòng bệnh bằng cách nào?

Nguyên nhân gây ra bệnh hắc lào là do sống trong môi trường không vệ sinh, người ra nhiều mồ hôi mà ít tắm giặt, bơi lội trong vùng nước bẩn. Chính vì vậy việc phòng bệnh phải bắt đầu bằng lối sống vệ sinh sạch sẽ, tắm gội và giặt giũ quần áo, chăn màn thường xuyên. Những người đang bị bệnh, bên cạnh việc dùng thuốc tại chỗ phải diệt nấm ở những vật dụng cá nhân như quần áo, chăn màn... bằng cách luộc ở nước sôi 100oC trong vòng 15 phút. Đối với người lành không mang bệnh không nên mặc quần áo chung với người khác, tránh làm việc nơi ẩm ướt, nếu ra mồ hôi nhiều cần phải thường xuyên tắm giặt và giữ khô những vùng nếp như háng, nách, bẹn. Khi mắc bệnh phải đi khám để được hướng dẫn chữa trị đúng.

ĐIỀU TRỊ BỆNH RUN TAY NHƯ THẾ NÀO?

Bệnh run tay do rất nhiều nguyên nhân, bao gồm:
Run tay là do nhiều nguyên nhân
- Nhóm run tay sinh lý (run tay không có tổn thương thực thể): thường xảy ra khi có xúc cảm mạnh, thời tiết lạnh hoặc do phải giữ lâu ở một tư thế.

- Run tay trong bệnh lý thần kinh: thường gặp ở các bệnh thực thể ở não - tủy sống như run tay trong bệnh parkinson, run tuổi già; run trong bệnh willson; run trong xơ não, tủy rải rác.

- Run tay do ngộ độc: thường gặp khi bị ngộ độc rượu mãn tính; run tay ở người nghiện morphin, cocain.

- Run tay do bệnh nội tiết: thường gặp ở bệnh cường giáp, basedow.

- Run tay do các bệnh chức năng (phải dùng test tâm lý mới xác định được).

Nguyên tắc chung là điều trị theo nguyên nhân. Chẳng hạn run tay do một bệnh lý khác thì phải điều trị bệnh gốc; hoặc run tay do nhiễm độc thì phải loại bỏ độc tố, nâng cao sức đề kháng của cơ thể…

Bạn nên đến các chuyên khoa thần kinh, nội tiết để khám, xác định nguyên nhân và điều trị tận gốc mới khỏi được.

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

CÁC BỆNH VỀ DA CÓ BỌNG NƯỚC?

Các bệnh ngoài da có bọng nước:

Bệnh ngoài da có bọng nước
1/ Herpes rộp nước : Gây nên do một virut xuyên lọc, virut này ký sinh trong cơ thể ở trạng thái tiềm tàng. Các bệnh cảm lạnh, rối loạn tiêu hoá, nhiễm độc, stress tạo điều kiện cho sự phát triển của virut. Thông thường gặp tổn thương đơn giản ở môi, cánh mũi, trong mồm, các cơ quan sinh dục. Trên nền da không thay đổi hoặc hơi đỏ, hơi phù nề hay trên niêm mạc xuất hiện những chùm mụn nước nhỏ bằng hạt đỗ con. Mụn nước chứa đầy dịch trong, kèm theo cảm giác ngứa rát. Sau vài ngày mụn nước vỡ ra, tai chỗ ấy tạo thành vết trợt, phủ đầy vảy kết. Đáng lo ngại là herpees rộp nước thường hay tái phát khu trú ở vùng sinh dục và môi.

Ngoài ra, nếu biểu hiện tổn thương chủ yếu ở cơ quan ssinh dục thì thường do Herpes – Simplex II. Có một tỉ lệ rất lớn người lành mang virut này nhưng không có biểu hiện triều chứng lâm sàng. Bệnh lây truyền qua đường sinh dục khi quan hệ tình dục không an toàn với người mang virut, sau khi nhiễm virut, trong một điều kiện nào đó như mệt mỏi, viêm nhiễm thì virut sẵn có có thể trở thành bệnh.

Tổn thương xuất hiện tại niêm mạc và bán niêm mạc ở bộ phận sinh dục nam và nữ và đặc biệt ở nữ có thể gây viêm cổ tử cung hoặc ung thư cổ tử cung.

Điều trị chủ yếu là bôi thuốc sát trùng ngoài da,tiêm máu tự thân, hoặc dùng các thuốc kháng sinh diệt virut và kháng sinh diệt khuẩn nếu có bội nhiễm.

2/ Zona thần kinh : cũng do virut gây nên, nhưng thương tổn của nó đặc trưng là các mụn nước bỏng rát chỉ tập trung một bên cơ thể (theo chiều dọc).

3/ Viêm da dạng herpes Duhring : Căn nguyên và sinh bệnh hoạc chưa rõ nhưng cũng có thể là do virut. Thường người lớn hay bị bệnh. Tổn thương đa dạng như dát, sẩn, sẩn phù, mụn nước, đôi khi mụn mủ, hay tái phát và có tính chất đối xứng kèm theo ngứa nhiều.
Thương tổn không đồng đều, thường tụ tập lại thành hình đám như dây hoa, cầu vồng, vòng tròn. Tại nơi thương tổn cũ còn lại vết thâm rất rõ. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm máu tế bào ưa acide tăng cao. Điều trị cũng giống như các bệnh trên, tăng cường sinh tố B…

4/ Pemphigut : Cũng chủ yếu do virut, thường gặp ở người 40 – 60 tuổi có kèm theo các bệnh như thần kinh hoặc rối lạon chuyển hoá. Thương tổn thường xuất hiện trên nền da bình thường, đặc trưng là các bọng nước nhẽo, không tập trung thành tứng đám, trong có chứa dịch màu vàng chanh. Bọng nước thường xuất hiện ở trong niêm mạc mồm, vòm miệng, mũi, và sau đấy là ở da đầu, háng, bệnh nhân có sụt cân, ngứa, đau miệng, thường sau đó bọng nước vỡ ra các vết trợt được hinh thành.

Nếu không được điều trị, các bọng nước tiếp tục mọc và xuất hiện vết trợt nông làm bệnh nhân đau đớn khi ăn, có mùi hôi khó chịu ở những vết trợt…Bệnh kéo dài từ 1 đến vài năm và được điều trị bằng sát trùng da tại chỗ, dùng cocticoit toàn thân…

Để xác định rõ tổn thương cũng như nguyên nhân của bệnh để có thể điều trị hiệu quả, bạn nên đi khám bệnh sớm tại các trung tâm da liễu.

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH TÁO BÓN VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ?

Táo bón là trạng thái đi tiêu phân khô cứng, buồn đi mà không đi được, thời gian đi tiêu lâu hoặc nhiều ngày mới đi tiêu, trong điều kiện ăn uống bình thường.

Ảnh minh họa
Táo bón là một triệu chứng thông thường trong cuộc sống, đa số cho rằng nó không phức tạp và đôi khi đã coi nhẹ triệu chứng; nhưng thực tế không phải vậy; có rất nhiều người đã phải chịu khổ sở vì nó.

Nguyên nhân của bệnh táo bón:

- Táo bón do chế độ ăn uống, sinh họat không hợp lý

- Táo bón do bệnh lý

- Táo bón do dùng thuốc

Hậu quả:

- Nếu táo bón kinh niên do sự xáo trộn về sinh lý của ruột già thì ảnh hưởng trên cơ thể tương đối ít nhưng cũng làm cho người bệnh khó chịu, kém vui, thỉnh thoảng cảm thấy nhức đầu

- Có thể làm nhiễm trùng đường ruột gây sưng ruột.

- Táo bón không phải là bệnh hiểm nghèo nhưng nếu để kéo dài sẽ xảy ra những biến chứng như tắc ruột, xoắn ruột, sa trực tràng, xuất hiện cơn thiếu máu cục bộ (do phải rặn lâu), trĩ, ung thư ruột...

Cách chữa trị:

Ở những thời gian đầu ta có thể áp dụng một số biện pháp nhỏ để cải thiện tình hình như:

- Uống một cốc sữa ấm trước khi đi ngủ.

- Uống 1 lít nước ấm và đi bộ khoảng vài phút ngay lập tức sau khi thức dậy vào buổi sáng.

- Uống nước chanh pha lẫn với nước ấm từ 2 - 3 lần/ngày.Ngoài ra nên ăn những loại thực phẩm dễ tiêu hoá.

- Bổ sung nhiều rau, củ quả để tăng cường chất xơ.

- Chỉ ăn khi đói, không nên ăn thành nhiều bữa và mỗi bữa ăn nên cách nhau 4 tiếng.

- Luyện tập đều đặn. Việc luyện tập chính là phương thuốc hữu hiệu giúp phòng ngừa và điều trị bệnh táo bón.

- Ngủ đủ giấc. Thiếu ngủ cũng chính là một trong số những thủ phạm gây nên căn bệnh táo bón.

- Nên hạn chế và tránh ăn những đồ ăn khô như đậu tương, lạc...

- Không nên ăn quá nhiều loại thức ăn trong một bữa ăn.

- Tránh xa thuốc lá, cà phê và trà đặc.

Sử dụng thuốc:

- Thuốc nhuận trường giúp người bệnh có lại sự điều hoà trong việc đại tiện. Các loại thuốc nhuận trường có thể được sử dụng trong thời gian ngắn hạn và không cần toa bác sĩ.

- Các loại thuốc xổ cần phải có sự hướng dẫn của thầy thuốc khi sử dụng. Phải hết sức cẩn thận khi dùng thuốc xổ. Khi có triệu chứng táo bón nên tìm đến bác sĩ để tìm ra những nguyên nhân, cách điều trị đúng.

Không tự ý thụt, tháo khi chưa có chỉ định của bác sỹ.

Chính vì coi nhẹ việc điều trị mà một số lớn người tự điều trị lấy, chỉ nghĩ đơn giản rằng dùng thuốc nhuận trường là đủ. Tình trạng đó kéo dài sẽ dẫn đến hậu quả như bị: trĩ, sa trực tràng… Thói quen tốt nhất là nên đi khám bệnh để được tìm ra nguyên nhân và điều trị đúng, tránh tình trạng lạm dụng thuốc nhuận trường.

Thứ Hai, 26 tháng 8, 2013

HIỆN TƯỢNG DA BỊ NỔI SẦN VÀ NGỨA?

Nếu các nốt sần của bạn xuất hiện tại các lỗ chân lông thì đó chính là hiện tượng viêm nang lông gặp khi thời tiết thay đổi, đặc biệt là những ngày khí hậu ẩm ướt, các vi khuẩn tại các nang lông này sẽ hoạt động mạnh hơn, gây nên hiện tượng ngứa.

Ảnh minh họa
Hoặc nếu chân lông của bạn bị nổi sần từng đám như nổi da gà có thể là do:

1. Á sừng: kèm theo từng mảng vẩy trắng mịn, trên bề mặt mảng có tăng sừng tại các lỗ chân lông. Tổn thương có thể ở lưng, mặt ngoài tay; không đối xứng. Có thể ngứa. Bệnh thường do phản ứng dị ứng xa của da đối với các ổ nhiễm trùng thường gặp như ở họng, mũi, răng ... bạn có thể bôi các thuốc có chứa corticoid nhẹ như Fucidin H, Elomet® … trong thời gian ngắn (1 - 2 tuần).

2. Chàm nang lông: lỗ chân lông to, dầy sừng, kèm ngứa; thường dối xứng ở 2 bên đầu gối, cùi chỏ. Kèm theo da khô, nhất là ở lòng bàn tay - chân. Bạn nên tắm bằng dầu tắm của baby hoặc các loại sửa tắm không chứa lipid như Cetaphil, Physiogel, Saforell® …; bôi các loại kem dưỡng ẩm, tiêu sừng.

3. Dầy sừng nang lông: các lỗ chân lông to, tạo cồi, rời rạc; thường đối xứng ở mặt ngoài cánh tay và mặt trước đùi; không ngứa. Trong trường hợp này bạn có thể bôi các thuốc tiêu sừng mạnh như salicylic acid 5 - 10% hoặc kem Tretinoin 0.05 - 0.1%.

Nếu tình trạng ngứa lặp lại nhiều lần, người bệnh bắt buộc phải khám kỹ, tìm tác nhân gây dị ứng. Để giảm ngứa, ngoài việc dùng thuốc người bệnh có thể dùng khăn hấp nóng đắp vào chỗ ngứa, hoặc có thể dùng chai nước nóng chườm vào chỗ ngứa. Khi tắm không được dùng xà phòng, không cào gãi, chà xát mạnh tránh làm tổn thương nặng thêm gây bội nhiễm.

Theo chúng tôi, bạn nên đi khám chuyên khoa Da Liễu để được chẩn đoán chính xác nguyên nhân và điều trị hiệu quả.

HIỆN TƯỢNG BONG TRÓC DA MÔI VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ?

Viêm môi bong vảy (Chelitis exfoliative) là một thuật ngữ dùng để chỉ tình trạng môi bị viêm, bong vảy trong phạm vi viền môi, không lan ra phía bên ngoài. Nguyên nhân chưa được xác định rõ, nhưng thường là biểu hiện của một bệnh nào đó bên trong cơ thể.

Không nên bóc vảy trên môi
Biểu hiện của bệnh

- Viêm nhẹ: bong vảy nhẹ, hay tái đi tái lại. Khi vảy bong ta thấy bề mặt môi bị đỏ và hơi rát hoặc đau nhẹ. Trường hợp này không rõ nguyên nhân.

- Viêm môi bong vảy mạn tính: bệnh hay gặp hơn và thường là một trong các biểu hiện của một số bệnh về da. Các bệnh hay gặp là viêm da dầu, viêm da cơ địa, vảy nến, bệnh nhân đang được điều trị bằng retinoid, mẫn cảm ánh nắng mặt trời, thói quen hay liếm môi... Nhiều trường hợp viêm môi tróc vảy là do dị ứng với một số các chất như dị ứng với thành phần có trong son môi hoặc đôi khi các chất màu có trong son môi lại là tác nhân gây mẫn cảm ánh nắng mặt trời gây viêm, kem đánh răng, dung dịch súc miệng... Các chất khác có thể gặp như son bôi móng tay, dung dịch cạo râu...

Môi viêm đỏ vảy dày lên hết lớp này đến lớp khác làm thành những vảy to dày. Nền ở dưới đỏ tươi, ẩm ướt. Nếu viêm kéo dài thì có thể gây nứt nẻ môi, chảy máu. Một số trường hợp viêm môi kèm theo nứt kẽ mép làm ảnh hưởng đến ăn uống, nói cười của bệnh nhân.

Bệnh nhân chú ý không liếm môi, bóc vảy trên môi.

Điều trị

Loại bỏ tất cả các nguyên nhân nghi ngờ gây viêm môi. Nếu là biểu hiện của bệnh da nào thì ta phải điều trị tích cực bệnh da đó. Bôi các loại kem làm mềm da, ẩm da như cream vitamin E, kẽm oxyd, nitrat bạc. Có thể bôi một trong các chế phẩm có steroid hoạt phổ nhẹ như: eumovate, fobancort, fucicort, chlorocide H... ngày 2 lần trong 1- 2 tuần.

Trường hợp dai dẳng có thể chiếu một đợt laser helineon hoặc điều trị bằng thuốc tăng cường miễn dịch. Triderm là một thuốc bôi có chứa steroid hoạt phổ mạnh nên chỉ được bôi trong một thời gian ngắn 1 - 2 tuần. Còn protopic có tác dụng tạm thời nên bệnh vẫn tái phát sau khi dừng bôi thuốc. Khi phản ứng viêm mạnh thì phải uống một đợt kháng sinh theo chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa da liễu. Có thể tăng cường một đợt vitamin nhóm B, C...

Bạn có thể đi khám tại Bệnh viện da liễu để được bác sĩ thăm khám trực tiếp và kê đơn điều trị.

HIỆN TƯỢNG HO RA MÁU RẤT NGUY HIỂM PHẢI KHÔNG?

Ho ra máu có thể là do một trong số những nguyên nhân sau:
Ho ra máu phải đi khám ngay
- Do những viêm nhiễm ở phổi như là viêm phế quản, viêm phổi.

- Ho lâu ngày và ho dữ dội, làm giãn tĩnh mạch.

- Do những tổn thương ở phổi như phổi bị sưng phù.

- Ung thư phổi.

- Do ảnh hưởng của một số bệnh liên quan đến tim mạch.

Ngoài ra, ho ra máu còn chịu ảnh hưởng rất nhiều của yếu tố thời tiết. Trong 3 yếu tố: độ ẩm, khí áp, nhiệt độ thì sự thay đổi về nhiệt độ và khí áp ảnh hưởng đến ho ra máu rõ rệt nhất.

Bạn nên đi kiểm tra để xác định rõ nguyên nhân tại sao, để từ đó có hướng điều trị đúng.

Để kết luận chính xác bạn đang mắc phải chứng bệnh gì, các bác sĩ sẽ nhờ đến sự can thiệp của:

- Chiếu chụp X quang.

- Soi phế quản

- Xét nghiệm sinh tiết ở phổi.

- CT scan ( chụp cắt lớp) lao phổi, viêm phổi hoặc viêm phế quản.

Lưu ý: hãy hỏi ý kiến bác sĩ ngay trước khi chưa muộn, nếu ngoài việc ho ra máu, bạn còn thấy xuất hiện máu trong đờm hoặc nước bọt.

Thêm vào đó, nếu bạn ho ra lượng máu khá lớn khoảng vài thìa, đừng chần chừ mà hãy đến bệnh viện ngay lập tức. Điều này có thể rất nghiêm trọng.

Thứ Năm, 22 tháng 8, 2013

ẢNH HƯỞNG CỦA RƯỢU VỚI SỨC KHỎE NHƯ THẾ NÀO?

Lạm dụng rượu không những gây hại cho cơ thể mà còn khiến bạn mắc những rối loạn về cảm xúc và chứng nghiện rượu.

Rượu không tốt cho sức khỏe...
Thậm chí chỉ với lượng nhỏ, rượu có thể có những tác động tiêu cực lên sức khỏe, chẳng hạn như:

- Làm chậm hoạt động của não, ảnh hưởng tới sự tỉnh táo, sự phối hợp và thời gian phản ứng

- Ảnh hưởng tới giấc ngủ và chức năng tình dục

- Đau đầu

- Tăng huyết áp

- Ợ nóng

Uống rượu nhiều làm tăng nguy cơ bị tai nạn và đột quỵ. Theo thời gian, uống rượu nhiều làm tăng nguy cơ:

- Bị bệnh gan, thận, phổi và bệnh tim

- Đột quỵ

- Loãng xương

- Tăng huyết áp

- Béo phì

Uống rượu quá mức cũng làm tăng nguy cơ bị ung thư miệng, họng, thanh quản, thực quản, ung thư gan và ung thư vú. Khi kết hợp với hút thuốc lá, uống rượu quá mức làm tăng nguy cơ bị nhiều dạng ung thư khác.

Rượu có thể tương tác với nhiều thuốc. Rượu làm giảm tác dụng của một số thuốc chẹn bêta và có thể gây nguy hiểm nếu dùng với thuốc an thần, thuốc ngủ, thuốc kháng histamin hoặc thuốc giảm đau.

Nếu kết hợp rượu với thuốc kháng sinh, có nguy cơ cao bị chảy máu dạ dày. Nếu uống rượu khi đang dùng acetaminophen (Tylenol, và những thuốc khác), làm tăng nguy cơ tổn thương gan.

Do tình trạng sức khỏe, những người bị tăng huyết áp, nhịp tim bất thường (như rung nhĩ hoặc loạn nhịp tim), bệnh gan, loét, trào ngược acid dạ dày nặng, ngừng thở khi ngủ… không nên uống một chút rượu nào.

Phụ nữ mang thai, đang dự định mang thai hoặc đang cho con bú nên tránh dùng rượu. Nếu có tiền sử gia đình bị nghiện rượu, thì không nên uống rượu.

*Rượu ảnh hưởng tới đàn ông và phụ nữ theo những cách khác nhau

Một nghiên cứu mới đây cho thấy rượu có những ảnh hưởng khác nhau đối với đàn ông và phụ nữ như ảnh hưởng về mặt giới tính, những cảm xúc khiến người nghiện rượu tìm đến rượu và trạng thái mà họ cảm thấy vào ngày hôm sau.

Đối với đàn ông, tức giận dẫn tới uống rượu. Các nhà nghiên cứu cho biết một người đàn ông cảm thấy tức giận có nhiều khả năng sẽ uống rượu vào ngày hôm sau hơn là người không cảm thấy bực tức.

Trưởng nhóm nghiên cứu Valerie S Harder đến từ ĐH Vermont cho biết: “Một số người nói rằng họ muốn uống rượu để cải thiện tâm trạng nhưng đó không phải là những gì mà chúng tôi phát hiện được”.

Nghiên cứu đã tìm hiểu về việc uống rượu ảnh hưởng tới tâm trạng những người tham gia nghiên cứu như thế nào. Các nhà khoa học đoán mọi người sẽ nói rằng họ cảm thấy bớt giận dữ hay buồn bã sau khi uống rượu, và thấy hạnh phúc hơn vào ngày hôm sau. Tuy nhiên, các số liệu lại cho thấy điều ngược lại.

CÁCH ĂN SÁNG ĐÚNG LÀ NHƯ THẾ NÀO?

Bữa ăn sáng là bữa ăn quan trọng nhất vì nó cung cấp năng lượng cho các hoạt động cả ngày. Tuy nhiên, thực tế nhiều người bỏ bữa ăn sáng hoặc ăn sáng không đúng cách đều gây hại cho sức khỏe của mình.

Không nên ăn nhiều thịt vào buổi sáng...


Dưới đây là một số điều lưu ý khi ăn sáng:

-Không nên ăn sáng khi vừa ngủ dậy

Nhiều người có thói quen ăn sáng ngay khi vừa thức dậy. Theo các chuyên gia thì ăn sáng quá sớm không những không có lợi cho cơ thể và còn ảnh hưởng đến dạ dày. Nếu thức dậy sớm thì tốt nhất nên uống một cốc nước lọc ấm để kích hoạt lại hệ tiêu hóa cũng như thanh lọc cơ thể. Sau đó khoảng 20 đến 30 phút mới nên ăn sáng.

-Không nên ăn sáng quá muộn

 Ăn sáng muốn khiến cho bạn mất cảm giác ngon miệng và cơ thể không hấp thu hết được những dưỡng chất có trong thực phẩm, gây rối loạn đồng hồ sinh học trong cơ thể. Tốt nhất nên ăn sáng trước 9 giờ sáng.

-Không nên ăn quá no

 Một bữa ăn sáng thích hợp sẽ tạo điều kiện cho nạp năng lượng trước khi bắt tay vào làm việc. Nhưng việc ăn quá nhiều thức ăn vào bữa sáng sẽ có tác dụng ngược lại. Vì vậy, tốt nhất bạn nên đặt ra lượng calo vừa đủ cho cơ thể để có chế độ dinh dưỡng phù hợp nhất với mình.

-Không nên ăn đồ ăn vặt thay cho bữa sáng


Nhiều người do ngại hoặc không có thời gian nên thường xuyên có thói quen ăn bánh biscuit, chocolate… thay cho đồ ăn sáng. Đồ ăn vặt chỉ cung cấp năng lượng tạm thời, trong một thời gian ngắn. Ăn sáng với các loại thực phẩm khô dễ dẫn đến thiếu hụt dinh dưỡng cũng như sự suy giảm về thể chất.

-Không nên ăn sáng bằng thức ăn nhanh

Nếu thường xuyên ăn sáng với đồ ăn nhanh, cơ thể bạn sẽ bị thiếu chất xơ, vitamin và khoáng chất nhưng lại dư thừa năng lượng và chất béo, dẫn đến tình trạng thừa cân, béo phì, làm tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, xơ vữa động mạch…

-Không nên quá nhiều thịt

Nhiều người nghĩ rằng, buổi sáng ăn nhiều thịt để cung cấp năng lượng cho hoạt động của cơ thể trong cả ngày. Nhưng theo các chuyên gia khuyên bạn không nên ăn nhiều thịt hay nhiều dầu vào bữa sáng. Bởi những loại thức ăn này chứa quá nhiều protein, và chất béo nên không tốt cho dạ dày.

-Không nên ă bữa sáng bằng trái cây

Nhiều chị em phụ nữ ăn sáng bằng trái cây để giảm cân. Tuy nhiên, theo các chuyên gia dinh dưỡng điều này không nên vì trái cây chứa ít protein và calo nên không thể cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết để tạo ra năng lượng và duy trì sự trao đổi chất bình thường của cơ thể. Mặt khác, các loại trái cây như quả hồng vàng, cà chua, chuối... không thích hợp để ăn khi đói, gây hại cho dạ dày và tiêu hóa.

-Không nên ăn sáng bằng thực phẩm chiên, rán


Ăn thức ăn chiên rán vào buổi sáng khiến bạn nhanh chóng bị đầy hơi, khát nước và chậm tiêu hóa do khi chiên, rán, thực phẩm được bao bọc một lớp dầu mỡ gây đầy bụng. Điều này sẽ gây mệt mỏi sau một ngày làm việc vất vả. Ngoài ra, thức ăn chiên, rán thường chứa rất nhiều đường syro và dầu mỡ nhiều nên nếu ăn nhiều có thể gây ra bệnh béo phì, ung thư.

-Không nên ăn đồ ăn lạnh

Buổi sáng, cơ bắp, thần kinh và mạch máu của cơ thể đang trong trạng thái co lại, nếu bạn ăn thực phẩm lạnh sẽ khiến lưu lượng máu trong cơ thể khó lưu thông. Tình trạng này kéo dài sẽ gây khó chịu ở đường tiêu hóa, thậm chí gây táo bón, da trở nên xấu hơn hoặc thậm chí có đờm ở cổ họng....

-Không nên vừa đi vừa ăn

Nhiều người do không có thời gian nên thường xuyên tranh thủ vừa ăn vừa đi bộ.... Đây là một thói quen không có lợi cho cơ quan tiêu hóa, nhất là tăng nguy cơ đau dạ dày.

Ngoài ra, không nên uống nhiều nước ngọt và cafe vào buổi sáng. Uống nhiều ngọt thường xuyên sẽ khiến bạn mất đi cảm giác ngon miệng khi ăn và dễ bị tăng cân. Uống cafe sẽ giúp bạn tránh được tình trạng mệt mỏi, uể oải trong công việc. Nhưng caffeine có trong cafe sẽ kích thích sản xuất hormone gây stress trong cơ thể, tạo cảm giác ngon miệng và thèm ăn khiến bạn ăn nhiều, tăng cân. Đồng thời, caffeine còn có tác dụng kích thích làm tăng tiết axit dịch vị, ảnh hưởng đến dạ dày.

VÙNG NÀO TRÊN CƠ THỂ CẦN TÁC ĐỘNG MỖI NGÀY?

Ngực - Mát xa giúp tăng cường hệ miễn dịch

Các nhà khoa học phát hiện, tuyến ức là một trong những cơ quan miễn dịch quan trọng nhất chi phối hệ miễn dịch toàn cơ thể. Hoạt tính miễn dịch mà tuyến ức bài tiết ra giúp giám sát và kiểm tra các tế bào dị thường trong cơ thể và tiêu diệt nó không thương tiếc. Đồng thời lại có chức năng chống viêm, kháng bệnh, có tác dụng nhất định để làm chậm hão hóa.

Mát xa xương lưng sẽ kích thích lưu thông kinh lạc, làm cho khí huyết vận hành...
Hàng ngày kiên trì lấy tay xoa ấn huyệt ở vùng lồng ngực 100 - 200 lần, có thể kích hoạt tuyến ức, có tác dụng khỏe thân, phòng đuổi bệnh trong thời gian dài.

Lưng – Mát xa giúp dưỡng các bộ phận toàn thân

Xương lưng là nơi đi qua của hai mạch giám sát lớn nhất trong kinh mạch. Kinh lạc hai bên xương lưng có quan hệ rất gần gũi với lục phủ ngũ tạng. Thường xuyên mát xa xương lưng sẽ kích thích lưu thông kinh lạc, làm cho khí huyết vận hành, mạch huyết thông suốt,nuôi dưỡng các bộ phận toàn thân và giúp cơ thể mạnh khỏe.

Nách - Xoa bóp để thúc đẩy tuần hoàn máu

Nách là nơi huyết quản, bạch huyết, thần kinh nhiều nhất, phong phú nhất. Việc chạm vào khu vực này thường làm chúng ta buồn cười và điều này giúp các bộ phận cơ thể đều được vận động, thúc đẩy tuần hoàn máu và làm các bộ phận đầy sự giao hoán giữa dưỡng phân và khí dưỡng, làm cho não, tim và phổi đều được hưởng lợi. Vì vậy các chuyên gia gọi nó là “vận động nách”.

Rốn - Mát xa giúp phòng đột quỵ

Lỗ rốn thường bị các chuyên gia dinh dưỡng xem là doanh trại “pháo đài” bảo vệ sức khỏe.
Đông Y thường dùng thuốc dán đắp rốn, chữa trị đau thắt ngực, tiêu hóa không tốt vv. Thường xuyên mát xa rốn có tác dụng phòng và chữa trị đột quỵ, giúp phòng bệnh tật, kéo dài tuổi thọ.

Bàn chân – Ngâm chân giúp thúc đẩy tuần hoàn máu

Dưới chân có hơn 70 huyệt, 6 kinh mạch khởi nguồn và kết thúc ở chân. Các nhà khoa học còn cho rằng, dưới chân có hàng ngàn hàng vạn dây thần kinh chưa khai thông, có quan hệ mật thiết với não, tim và các bộ phận cơ thể, vì vậy chân được xem là “con tim thứ 2.

Thường xuyên cong bàn chân, chạy bộ, nước ấm ngâm chân…đều thúc đẩy huyết dịch dưới chân lưu thông máu ở tim và toàn thân, điều tiết âm dương cân bằng, phòng chống bệnh tật, khỏe thân trường thọ.

NGỦ BUỔI TRƯA BAO NHIÊU PHÚT LÀ ĐỦ?

Một giấc ngủ trưa bên cạnh việc có thể giúp bạn tỉnh táo, minh mẫn suốt buổi chiều, nó còn thật sự giúp bảo vệ sức khoẻ của bạn. Ngủ trưa không cần quá nhiều thời gian, khoảng 30 phút là vừa. Bởi ngủ nhiều hơn có thể làm cho bạn cảm thấy chếnh choáng, lảo đảo và gây ra các vấn đề cho giấc ngủ tối của bạn. Để có giấc ngủ trưa ngon giấc, bạn cần:

Ngủ trưa khoảng 30 phút là đủ
- Ngủ trưa trong một môi trường thoải mái, mát mẻ và yên tĩnh.

- Đừng ngủ trưa quá sớm hoặc quá trễ trong ngày để tránh ảnh hưởng đến giấc ngủ buổi tối.

Nếu bạn không ngủ đủ giấc sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ. Những nguy cơ bạn có thể gặp phải là:

- Tăng nguy cơ bị các bệnh mạn tính, gồm cả bệnh tim mạch và tiểu đường.

- Có nhiều khả năng bị béo phì và quá cân.

- Gia tăng nguy cơ bị trầm cảm.

- Thêm nguy cơ bị tai nạn xe cộ do “ngủ gật”.

THÓI QUEN XẤU NÀO GÂY HẠI CHO ĐÔI TAI,MẮT VÀ MŨI?

Hãy thay đổi những thói quen xấu để bắt đầu tận hưởng một cuộc sống khỏe mạnh và hạnh phúc là điều bạn cần phải làm.

Ngoáy mũi sẽ làm tổn thương niêm mạc mũi...
1. Thường xuyên ngoáy tai

Khi có cảm giác ngứa tai, mọi người thường tìm cách thỏa mãn cơn ngứa bằng bông ngoáy tai, móc, đầu ngón tay hoặc bất cứ vật gì có thể. Đây là một thói quen xấu vì hành động này vô tình đẩy các chất bẩn vào sâu hơn trong tai hơn nữa còn có thể làm hỏng màng nhĩ.

Màng nhĩ là ranh giới ngăn cách tai ngoài và tai giữa. Tai ngoài là nơi đón nhận bụi bặm và chất thải của tai hằng ngày. Theo cấu trúc tự nhiên, ống tai có lớp lông bảo vệ, tự cuốn bụi bặm và chất thải rồi đưa ra ngoài. Khi ngoáy tai, lớp lông bảo vệ bị rụng, da bị trầy sẽ làm tai mất khả năng tự “quét” bụi và tạo cơ hội cho vi trùng phát triển, dẫn đến viêm tai.

2. Tùy tiện ngoáy mũi

Một số người có thói quen ngoáy mũi, thường dùng đầu ngón tay để lấy gỉ mũi. Như vậy sẽ làm tổn thương niêm mạc mũi, có hại cho sức khỏe.

Các mạch máu trong niêm mạc mũi rất nhiều, giao nhau tạo thành một mạng lưới. Khi niêm mạc mũi hoàn chỉnh, chức năng tự vệ sinh của nó rất mạnh, vi khuẩn khó mà xâm nhập. Lông mũi trong niêm mạc mũi có tác dụng cản trở bụi, vi khuẩn xâm nhập vào đường hô hấp.

Tay có rất nhiều vi khuẩn, khi ngoáy mũi dễ làm tổn thương niêm mạc mũi, tàn phá lông mũi, vi khuẩn ở tay sẽ theo đó mà xâm nhập vào các cơ quan bên trọng, dẫn tới các triệu chứng như viêm lông mũi, đau, khô mũi, sốt, khó chịu…

Nghiêm trọng hơn, vi khuẩn có thể thông qua các mạch máu trên khuôn mặt mà xâm nhập vào hang xoang nội sọ, gây nhiễm trùng, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Do đó, đừng tùy tiện ngoáy mũi, nên thay đổi thói quen ngoáy mũi.

3. Nằm đọc sách

Nằm đọc sách sẽ làm tổn hại tới thị lực, đây là một sự thật rõ ràng. Tuy nhiên, tác hại của thói quen nằm đọc sách không chỉ dừng ở đó.

Một số nhà sinh lý học cho rằng: Giường là nơi để ngủ nghỉ, khi bạn nằm trên giường, diện tích cơ thể chịu lực hấp dẫn tăng lên, từ đó làm trì hoãn nhịp sinh học cơ thể. Tuy nhiên, nằm đọc sách có thể khiến não không ngừng phát ra thông tin, làm thay đổi đồng hồ sinh học. Theo thời gian, sẽ khiến nhịp sinh học mất đi sự cân bằng, dẫn tới các bệnh suy nhược thần kinh và tim mạch.

Một số người xem sách quá lâu, do nhịp sinh học mất đi sự cân bằng mà dẫn tới các triệu chứng như thần trí ngẩn ngơ, đầu óc mơ màng… lâu dần còn gây ra các bệnh như loãng xương và thiếu máu…

4. Đọc sách báo trên xe

Không ít người có sở thích đọc sách báo trên ô tô hay xe lửa. Tinh thần học hỏi kiến thức theo kiểu tranh thủ thời gian này thật đáng khen ngợi, nhưng xét về góc độ bảo vệ sức khỏe, việc làm này lại không đúng. Dù ngồi trên xe lửa hay xe hơi, do có nhiều người trên xe, ánh sáng không đủ, nếu xem sách quá lâu, chắc chắn mắt sẽ bị gánh nặng rất lớn, làm tổn hại tới sức khỏe đôi mắt.

Mặt khác, xe lắc lư bên này bên kia, khiến khoảng cách giữa mắt và sách báo thay đổi, chữ không ngừng biến động, thêm vào đó sự thay đổi liên tục của ánh sáng, muốn nhìn thấy chữ thì phải liên tục điều chỉnh tiêu cự, sẽ rất dễ khiến thần kinh thị giác bị mỏi, gây cận thị.

5. Đọc sách dưới ánh nắng mặt trời

Một số người thích đọc sách dưới ánh sáng mặt trời vào mùa đông hoặc tiết trời đẹp. Tưởng rằng vừa có thể tắm nắng, vừa tranh thủ học hành, đúng là một công đôi việc. Thực ra, cách làm này không đúng, đọc sách dưới ánh sáng mặt trời để ánh nắng chiếu trực tiếp vô cùng có hại cho mắt.

Trong ánh sáng mặt trời có chứa tia cực tím và tia hồng ngoại mà mắt thường không thể thấy, nếu mắt bị tia cực tím chiếu trực tiếp quá lâu sẽ làm tổn thương các tế bào nhãn cầu, khiến hai mắt bị đau nghiêm trọng, phải một vài ngày sau đó mới có thể trở lại bình thường.

Cho dù không để ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp vào mắt, nhưng đọc sách dưới ánh nắng mặt trời, ánh sáng phản chiếu của giấy cũng quá mạnh, quá lóa làm cho mắt khó chịu. Lâu dần sẽ khiến tổn thương mắt.

BỆNH HUYẾT ÁP CAO RẤT NGUY HIỂM PHẢI KHÔNG?

Cao huyết áp còn gọi là tăng huyết áp và khái niệm thường dùng trong dân chúng là bệnh tăng xông (tension). Đây là bệnh lý thuờng gặp trong cộng đồng và gia tăng theo tuổi, chiếm 8-12% dân số. Một số yếu tố nguy cơ làm gia tăng nguy cơ cao huyết áp như tiểu đường, thuốc lá, tăng lipid máu, di truyền.

Huyết áp cao là bệnh nguy hiểm
Cao huyết áp là bệnh lý gây tử vong và di chứng thần kinh nặng nề như liệt nửa người, hôn mê với đời sống thực vật, đồng thời có thể thúc đẩy suy tim, thiếu máu cơ tim làm ảnh hưởng nhiều đến chất lượng sống (không cảm thấy khoẻ khoắn, mất khả năng lao động) và gia tăng khả năng tử vong. Do đó điều trị huyết áp cao là vấn đề cần lưu ý trong cộng đồng vì những hậu quả to lớn của nó.

Biến chứng do huyết áp cao gây ra là rất nguy hiểm, thậm chí có thể khiến bị mù mắt.

Huyết áp tăng cao làm tổn thương những mạch cung cấp máu cho võng mạc, ảnh hưởng tới thị lực, nếu không phát hiện sớm để điều trị thì nguy cơ mù rất cao.

Bình thường số đo huyết áp tâm thu dao động từ 90 đến 139 mmHg và huyết áp tâm trương từ 60 đến 89 mmHg. Bệnh tăng huyết áp là một bệnh lý trong đó trị số huyết áp lúc nghỉ cao hơn mức bình thường: Tăng huyết áp thu đơn thuần khi ≥ 140 mmHg, Tăng huyết áp tâm trương đơn thuần khi ≥ 90 mmHg, hoặc tăng cả hai.

*Tăng huyết áp có thể gây mù

Tăng huyết áp là một bệnh tim mạch thường gặp, các biến chứng của bệnh là nguyên nhân gây tử vong và tàn phế hàng đầu ở người lớn tuổi. Bệnh tăng huyết áp tiến triển lâu ngày sẽ gây tổn thương nhiều cơ quan như: não, tim, thận, mắt, mạch máu... Tăng huyết áp làm giảm tuổi thọ 10 – 20 năm và nguy cơ biến chứng sẽ diễn ra sau 7 – 10 năm mắc bệnh, trên 50% sẽ có tổn thương cơ quan đích: tai biến mạch máu não, bệnh võng mạc, suy thận...

Mùa đông, những người mắc bệnh huyết áp cao rất khó khăn trong việc giữ gìn sức khỏe. Huyết áp không dễ khống chế, nguy hiểm chủ yếu là gây ra bệnh biến chứng. Mùa đông, nhiệt độ cơ thể thấp, cơ thể vì muốn duy trì thân nhiệt ổn định, giảm bớt sự toả nhiệt, các mao mạch sẽ co lại khiến lực cản huyết quản điều tiết bên ngoài tăng lên. Bên cạnh đó, nhiệt độ thấp nên ra mồ hôi ít, khiến dung lượng máu tăng lên. Nếu ăn quá nhiều các chất đường, béo... sẽ khiến khả năng hấp thụ và trữ nước trong cơ thể tăng, làm cho dung lượng máu trong cơ thể tăng theo. Ngoài ra, tâm trạng hàng ngày như lo lắng, căng thẳng, tức giận… sẽ làm cho huyết áp không dễ khống chế.

MÌ ĂN LIỀN ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỨC KHỎE NHƯ THẾ NÀO?

Nhiều người không hề biết rằng mì ăn liền thuộc loại thực phẩm chiên dầu nên ăn nhiều sẽ mang lại không ít tác hại cho sức khỏe.Cảnh báo tác hại từ mì ăn liền:Mì ăn liền không nên... ăn liền.


Không nên ăn nhiều mì ăn liền...
1. Ăn mì dễ nóng trong người

Độ giòn của mì ăn liền là do được chiên dầu ở nhiệt độ cao, những người thích mì ăn liền khi ăn xong thường cảm thấy khô miệng, háo nước. Thậm chí, nếu ăn thường xuyên sẽ dẫn tới tình trạng nóng trong người, vì thế không nên ăn nhiều mì ăn liền.

2. Rốn loạn chức năng dạ dày

Mì ăn liền là một trong những món ăn được sấy khô sau khi chiên qua dầu. Nếu bạn ăn mì ăn liền xuyên có thể sẽ gây rối loạn chức năng dạ dày, làm xuất hiện các triệu chứng như đầy hơi, đau dạ dày…

Nguyên nhân là do trong các thực phẩm sấy khô như mì tôm, gà rán, khoai tây chiên… đều chứa khá nhiều hương liệu và chất phụ gia, ăn thường xuyên sẽ không những khiến vị giác giảm sút mà còn có thể tạo áp lực cho dạ dày trong việc tiêu hóa chung. Đặc biệt, những đứa trẻ thích ăn mì tôm càng dễ mắc chứng khảnh ăn.

3. Thiếu chất dinh dưỡng

Thành phần chủ yếu của mì ăn liền là bột mì và chất béo, nước sốt và không chứa đủ 7 chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể như protein, chất béo, carbonhydrate, khoáng chất, vitamin và chất xơ.

Nếu ăn mì ăn liền suốt thời gian dài có thể dẫn đến thiếu hụt các chất dinh dưỡng, từ đó kéo theo một loạt bệnh như chóng mặt, mệt mỏi, tim đập nhanh, hôn mê... Những người ăn nhiều mì ăn liền, ăn liên tục trong thời gian dài có thể xuất hiện các triệu chứng thiếu dinh dưỡng như sút cân, teo cơ…

4. Béo phì và các bệnh liên quan

Mì ăn liền đã chiên qua dầu, hàm lượng vitamin B trong đó bị phá hủy hoàn toàn, về cơ bản mì ăn liền có thể không cung cấp đủ lượng calo cần thiết cho cơ thể hoạt động. Vậy nên, nhiều người có xu hướng ăn nhiều gói mì ăn liên cùng lúc hoặc ngoài ăn mì ăn liền còn ăn thêm những thứ khác nữa. Hậu quả là bạn đã nạp quá nhiều carbohydrate và chất béo vào cơ thể.

Vì vậy, nếu thường xuyên ăn mì ăn liền sẽ dẫn tới hàm lượng chất béo, calo tăng cao suốt thời gian dài, từ đó gây béo phì và gia tăng nguy cơ mắc các bệnh liên quan tới béo phì như tim mạch, tiêu đường, cholesterol cao…

5. Lão hóa sớm

Dầu trong mì ăn liền cũng có thể có chất chống oxy hóa, nhưng nó chỉ có thể làm chậm oxy hóa, trì hoãn thời gian hỏng chứ không thể ngăn chặn hoàn toàn tình trạng mốc hỏng. Thực phẩm chứa dầu sau khi bị mốc hỏng sẽ phá hủy các thành phần dinh dưỡng, sinh ra lipid peroxide, nếu nạp quá nhiều lipid peroxide vào cơ thể suốt thời gian dài sẽ tiêu diệt hệ thống enzym quan trọng của cơ thể, sẽ đẩy nhanh quá trình lão hóa.

Vì vậy, bạn cần chú ý khi ăn mì ăn liền. Nếu thấy có dấu hiệu mốc, hỏng hoặc quá hạn sử dụng thì bạn nên bỏ đi chứ không cố ăn, sẽ gây hại cho sức khỏe.

6. Có thể dẫn đến ung thư

Để cải thiện hương vị cho mì ăn liền, hoặc kéo dài thời gian bảo quản, các hãng sản xuất thường cho thêm một vài chất phụ gia như phosphate, chất chống oxy hóa, chất bảo quản… Do lưu trữ quá lâu, ảnh hưởng môi trường nên các chất này cũng sẽ từ từ biến chất, sau khi ăn sẽ gây hại cho cơ thể, hơn nữa nếu tích tụ lâu trong cơ thể sẽ để lại hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt có thể dẫn đến ung thư.

Do mì ăn liền được chế biến bằng cách sấy khô hoặc chiên qua dầu, trong quá trình này có thể xảy ra phản ứng hóa học liên quan, sinh ra một vài chất có độc. Giống như tất cả các loại thực phẩm loại tinh bột nếu nấu chín ở nhiệt độ cao (trên 120 độ C) đều sinh ra chất acrylamide gây ung thư.

7. Gây hại cho gan

Trong một môi trường ô nhiễm nghiêm trọng, những hộp mì ăn liền bằng nhựa khi được ngâm trong nước nóng ở nhiệt độ trên 65 độ C, chất độc hại của nó sẽ ngấm vào thực phẩm, từ đó gây hại cho gan, thận, hệ sinh sản, dây thần kinh trung ương.

Mì ăn liền không nên... ăn liền

Mặt tốt của mì ăn liền như rẻ tiền, tiện dụng, giúp tiết kiệm rất nhiều thời gian... thì ai cũng rõ nhưng ít người biết đây là một loại thức ăn không lợi mấy về mặt sức khỏe.

Lý do là vì mì ăn liền nghèo giá trị dinh dưỡng nhưng lại giàu các chất phụ gia và các chất bảo quản, dầu mỡ...

Mì ăn liền chính là mì sợi đã được sấy khô và được “tẩm quất” với cơ man nào là dầu mỡ. Chính mì ăn liền đã từng bị chỉ trích vì chứa rất nhiều carbonhydrates, ít chất xơ, các vitamin và khoáng chất; không tốt cho sức khỏe do chứa nhiều chất béo bão hòa, chất béo trans, calories, bột ngọt...

Mì ăn liền, vì thế không nên ngày nào cũng ăn. Để trục xuất những “kẻ phá bĩnh” có trong mì ăn liền thì cần một khoảng thời gian từ 4 - 5 ngày, nhất là những chất bao ở cọng mì. Nhưng để giảm thiểu sự hiện diện của những chất bao cọng mì vốn hại nhiều hơn lợi này thì cần phải dùng đến những kỹ thuật cá nhân sau đây:

- Đun sôi cọng mì trong nồi nước chứ không nên đổ nước sôi vào tô rồi ăn ngay.

- Khi cọng mì chín, bỏ vào rổ cho ráo nước, xóc rổ 3 hoặc 4 lần trước khi sử dụng.

- Đun một nồi nước sôi khác bỏ mì đã chín vào, tắt lửa rồi sau đó bỏ gói bột nêm vào trước khi ăn.

Với những kỹ thuật này thì chắc chắn là phải mất nhiều thao tác và thời gian chứ không thể ăn... liền nhưng bù lại, chúng ta có thể yên tâm hơn khi thưởng thức tô mì.

NHỮNG LOẠI THỰC PHẨM GÌ TỐT VÀ KHÔNG TỐT CHO NGƯỜI BỊ BỆNH THẬN?

Chế độ ăn uống của bạn có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của thận. Nếu bị bệnh thận, bạn hãy lưu ý khi tiêu thụ các thực phẩm sau đây nhé.

Chế độ ăn uống ảnh hưởng đến sức khỏe của thận
Hầu hết chúng ta thường không mấy chú ý đến sức khỏe của các bộ phận bên trong cơ thể, bao gồm cả thận. Tuy nhiên, bạn cần biết rằng, thận là một bộ phận vô cùng quan trọng, nó có chức năng chính là lọc chất độc trong máu ra khỏi cơ thể. Bởi vậy, khi chức năng thận suy giảm thì chất độc bị tích lũy lại sẽ gây bệnh. Ngoài ra, nếu thận không sản xuất đầy đủ hormone sẽ gây ra rối loạn chức năng các cơ quan khác trong cơ thể.

Điều này không những đe dọa sức khỏe của thận mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể.

Khi chức năng thận suy giảm, một số triệu chứng có thể xuất hiện như sưng phù (chân, quanh mắt), mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, tiểu nhiều lần… Lúc này, người bệnh cần có biện pháp để giảm gánh nặng cho thận bằng cách kiểm soát lượng muối vào cơ thể, hạn chế thức ăn giàu đạm, thức ăn chứa nhiều kali.

Chế độ ăn uống của bạn có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của thận.

Khi bị bệnh thận, hãy tránh tiêu thụ các loại thực phẩm sau:

- Quả bơ: Mặc dù loại quả này chứa nhiều chất béo không bão hòa đơn rất có lợi cho tim mạch nhưng nó lại không phải là loại quả mà người mắc bệnh thận nên ăn nhiều. Hàm lượng kali trong quả bơ khá cao nên nếu ăn nhiều sẽ tăng gánh nặng cho thận. Vì vậy, nếu bạn đã được chẩn đoán bị bệnh thận thì tốt nhất nên tránh loại quả này. Trong trường hợp thận của bạn khỏe mạnh thì cũng không nên ăn quá nhiều.

- Chuối: Loại quả này cũng chứa một lượng kali rất cao nên nó cũng nằm trong danh sách thực phẩm không tốt cho người bị bệnh thận.

- Thịt bò: Bạn vẫn biết rằng thịt bò tốt cho sức khỏe, trừ trường hợp bạn bị bệnh gout. Nhưng thực tế, nếu bạn gặp vấn đề ở thận, bạn cũng không nên ăn nhiều thịt bò. Lượng protein trong thịt bò có thể quá cao so với "sức chịu đựng" và xử lý của thận. Do vậy, hãy hỏi bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng để biết lượng thịt bò bạn có thể ăn là bao nhiêu.

- Sữa: Những người bị bệnh thận cần phải giảm tiêu thụ lượng sữa và các sản phẩm từ sữa (bao gồm sữa chua, pho mát, bơ...). Các sản phẩm này thường có nhiều phốt pho mà hàm lượng phốt pho trong cơ thể quá nhiều có thể gây suy thận, đau tim và những bệnh liên quan tới xương.

- Nội tạng động vật: Trong nội tạng của bất kì loại động vật nào cũng đều có hàm lượng purine cao. Nếu ăn nhiều nội tạng động vật, thận sẽ gặp khó khăn trong việc thải lọc ra tất cả các chất thải, protein, purine... Điều này có thể gây ra bệnh gout, sỏi thận và về lâu dài sẽ dẫn tới suy thận.

- Khoai tây: Hàm lượng kali trong khoai tây khá cao vì vậy nó cũng không phải là thực phẩm tốt cho người gặp trục trặc ở thận. Nếu bạn có ý định ăn khoai tây, tốt nhất hãy ngân khoai tây chưa gọt vỏ trong nước trong ít nhất hai giờ trước khi chế biến.

- Cà chua: Cũng giống như khoai tây, cà chua có chứa nhiều kali nên cũng không tốt cho người bị bệnh thận. Tuy nhiên, cà chua không thể ngâm trong nước như khoai tây, vậy nên, nếu bị bệnh thận, bạn hãy tránh xa loại thực phẩm này. Ngoài ra, bạn cũng khỗng nên ăn nhiều để tránh tăng áp lực cho thận.

Các loại thực phẩm có lợi cho thận:

- Các loại ngũ cốc: Ngũ cốc nguyên hạt được coi là tốt cho thận vì nhiều lý do. Nó có thể giảm cholesterol và thay thế lượng calo bị thiếu hụt trong cơ thể nên đảm bảo năng lượng cho bạn. Điều này càng quan trọng hơn nếu bạn bị bệnh thận vì khi thận hoạt động không tốt tức là thận không thể xử lý protein để tạo thành calo và năng lượng cho cơ thể. Điều này kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng kiệt sức ở nhiều bệnh nhân bị bệnh thận.

- Nước ép quả anh đào: Đối với những người có chức năng hoạt động của thận bị suy giảm thì uống nước ép quả anh đào sẽ đem lại lợi ích rất lớn. Thức uống này có tác dụng giảm axit uric và giảm viêm nên có thể giảm gánh nặng cho thận khi phải lọc thải các chất trong máu.

- Bắp cải: Hàm lượng vitamin K, vitamin C, chất xơ, vitamin B6 và axit folic... trong bắp cải rất cao. Vì vậy mà bắp cải được coi là thực phẩm giúp thanh lọc máu và thải độc cho thận rất tốt.

Ngoài ra, bạn nên uống nhiều nước. Nếu cơ thể không được cung cấp đủ nước, thận và máu của bạn sẽ không hoạt động tốt, thận sẽ không thể tạo ra các áp lực nước đủ lớn để đẩy các chất thải thông qua đường tiết niệu để ra ngoài cơ thể.

NHÓM CHỊ EM NÀO CÓ NGUY CƠ VÔ SINH CAO?

Thưa bác sĩ, em năm nay 26 tuổi, chưa kết hôn. Trước đây em không mấy để ý đến vóc dáng của mình, nhưng gần đây em được biết phụ nữ thừa cân, béo phì có nguy cơ bị vô sinh cao. Em rất lo lắng và tự ti về bản thân vì em cao chưa đến 1m60 nhưng cân nặng thì trên dưới 70kg rồi. Em cũng đã tìm mọi cách để giảm cân nhưng có thể do gen nhà em toàn những người béo phì nên em không thể giảm cân được.

Ngoài ra, em cũng cảm thấy mình hay bị các bệnh ở vùng kín (chủ yếu là ngứa ở âm đạo). Từ sau khi biết thông tin trên, em rất lo mình cũng rơi vào nhóm có nguy cơ vô sinh cao. Vì hoang mang nên em không dám đi khám. Em rất muốn biết những chị em nào có nguy cơ vô sinh cao nên mong bác sĩ có thể tư vấn giúp em. Em xin cảm ơn!

Phụ nữ béo phì có thể bị vô sinh
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, vấn đề vô sinh đang dần trở thành mối quan tâm đặc biệt của rất nhiều người, kể cả nam giới và nữ giới. Nếu như trước kia chúng ta vẫn cho rằng những người vô sinh thường là người gặp khuyết tật ở cơ quan sinh dục hoặc là do bẩm sinh thì ngày nay nguyên nhân gây vô sinh đã mở rộng hơn rất nhiều. Thậm chí, ngay cả khi có lối sống không lành mạnh, bất kì ai cũng có thể phải đối mặt với nguy cơ vô sinh.

Các yếu tố có thể gây vô sinh cho nữ giới ngày nay bao gồm: bẩm sinh, tâm trạng không tốt (căng thẳng, lo lắng...), bị bệnh hoặc do các tác dụng phụ của thuốc...

Nói như vậy cũng đồng nghĩa với việc có những nhóm chị em có nguy cơ vô sinh cao hơn những chị em khác. Vậy những chị em nào có nguy cơ vô sinh cao?

- Chị em bị các bệnh phụ khoa mãn tính: Những chị em mắc các bệnh phụ khoa hoặc bệnh liên quan đến cơ quan sinh dục như viêm nhiễm âm đạo, lạc nội mạc tử cung, rối loạn kinh nguyệt, dị tật ở tử cung hoặc cổ tử cung, viêm tắc buồng trứng... đều có thể gặp khó khăn trong việc thụ tinh nên không dễ thụ thai. Khi bị các bệnh này, sự cân bằng hormone giới tính trong cơ thể bị phá vỡ, dẫn đến kết quả là các bộ phận trong cơ quan sinh sản không làm tốt chức năng của chúng, ví dụ như trứng rụng không đều, nội mạc tử cung hay tắc ống dẫn trứng có thể cản đường của tinh trùng khi đến thụ tinh với trứng... Buồng trứng hoạt động bất thường, không phóng noãn, thậm chí rụng trứng không đều cũng khiến cho phụ nữ không thể có thai...

- Chị em có chế độ ăn uống thiếu chất dinh dưỡng: Chế độ dinh dưỡng nghèo nàn là một chế độ dinh dưỡng thiếu các vitamin cần thiết, muối khoáng, chất xơ, chất chống oxy hóa... Chế độ ăn này sẽ làm cho cơ thể thiếu hụt dinh dưỡng, các cơ quan trong cơ thể bị suy yếu, lượng hormone giới tính bị giảm sút hẳn và đe dọa khả năng rụng trứng, sinh sản của người phụ nữ.

- Phụ nữ thừa cân, béo phì: Phụ nữ béo phì dễ gặp phải hiện tượng rối loạn chu kỳ "đèn đỏ", từ đó có thể dẫn tới hội chứng buồng trứng đa nang, rối loạn nội tiết khác. Điều này ảnh hưởng hết sức tiêu cực đến quá trình phát triển trứng và rụng trứng bình thường. Ngay cả khi trứng đã rụng thì việc "thừa cân" cũng làm cho trứng khó làm tổ. Hơn nữa, quá béo cũng làm thay đổi thành phần mỡ trong máu, tăng khả năng viêm nhiễm, giảm khả năng sống của trứng và phôi thai.

- Chị em có lối sống không lành mạnh: Những chị em có thói quen hút thuốc, uống rượu, thức khuya, sử dụng các chất kích thích... cũng có thể khó có con, thậm chí còn có nguy cơ vô sinh cao. Những thói quen trên không những có thể gây rối loạn nội tiết mà còn giảm chất lượng của trứng. Điều này cũng góp phần gây khó khăn trong việc có con của chị em.

Tuy nhiên, không phải ai có những dấu hiệu trên bị vô sinh. Nếu bạn thấy mình rơi vào nhóm có nguy cơ cao thì bạn nên đi khám sớm để được các bác sĩ kiểm tra sức khỏe, loại trừ bệnh tật và có phương pháp tăng cường sức khỏe thích hợp nhất. Vậy nên, bạn đừng quá lo lắng, thường xuyên quan tâm đến sức khỏe của mình là cách tốt nhất để đảm bảo bạn luôn khỏe mạnh!
Chúc bạn vui khỏe!

CÓ CÁCH NÀO CHỮA CẢM CÚM KHÔNG CẦN DÙNG THUỐC?

Mấy hôm nay thời tiết chuyển se lạnh chắc hẳn đã khiến nhiều người mắc bệnh cảm cúm. Mình xin mách các bạn 1 vài mẹo nhỏ chữa cảm cúm không cần dùng thuốc. Hi vọng nó sẽ có tác dụng nhanh chóng giúp bạn thoát khỏi những triệu chứng khó chịu.

Thực phẩm giàu kẽm
Sau đây là 1 vài mẹo nhỏ :

Người lớn trung bình bị cảm 2-4 lần mỗi năm. Khi đó các triệu chứng viêm nhiễm đường hô hấp trên khiến bạn rất khó chịu có khi phải mất tới 10 ngày mới hết. Dưới đây là những mẹo nhỏ từ Mensheath giúp bạn đánh bại cảm cúm nhanh nhất.

Bổ sung kẽm

Nghiên cứu cho thấy uống kẽm (có thể là dạng viên ngậm, viên nén, siro) ngay ngày đầu có các triệu chứng cảm có thể giảm mức độ nghiêm trọng và thời gian mắc bệnh. Thường xuyên bổ sung chất này cũng giúp bạn giảm nguy cơ mắc cúm.

Thư giãn


Khi bạn căng thẳng, hệ thống miễn dịch của bạn suy giảm trước sự tấn công của virus và vi khuẩn. Đó là lý do các nhà nghiên cứu tại đại học Wisconsin (Mỹ) thành lập nên một thiền quán nhằm giúp các thành viên tham gia giảm tỷ lệ và thời gian mắc cảm lạnh xuống 35-60%.

Uống nhiều nước

Nước giúp giữ ẩm cho mũi, vì vậy có thể loại bỏ những hạt nhỏ li ti có chứa vi khuẩn.

Súc miệng thường xuyên

Có bằng chứng cho thấy súc miệng với nước vài lần trong ngày khi bị cảm cúm có thể giúp giảm bệnh.

Bổ sung probiotic

Kết quả một nghiên cứu gần đây khẳng định, bổ sung probiotic (vi khuẩn thân thiện) có thể rút ngắn thời gian bị cảm lạnh 4-6 ngày, làm các triệu chứng ít nghiêm trọng hơn 1/3.

Thử dùng thảo dược

Cũng như kẽm, một số cây thuốc có khả năng giúp bạn giảm triệu chứng, số ngày mắc cảm cúm nếu sử dụng nó ngay khi có những dấu hiệu bệnh đầu tiên.

Một loại cây có tên khoa học là Pelargonium sidoides (quỳ thiên trúc) được chứng minh có khả năng điều trị ho và các bệnh đường hô hấp.

Bổ sung vitamin D

Không phải ngẫu nhiên mà cảm cúm tăng mạnh trong những tháng có ít ánh nắng mặt trời nhất. Và một số nghiên cứu cho thấy sử dụng 800-1000 IU vitamin D mỗi ngày cho người lớn trong suốt mùa lạnh có thể giảm nguy cơ mắc bệnh và giúp nhanh hồi phục hơn.

Ngưng tập thể dục

Tập thể dục thường xuyên là cách tốt nhất giúp bạn tránh vi khuẩn, các nghiên cứu khẳng định. Nhưng khi bạn bị cảm cúm, nên nghỉ ngơi. Bạn cần lắng nghe cơ thể mình, đừng cố gắng tập luyện nếu thấy mệt mỏi. Bạn không muốn ốm thêm vì thể dục đấy chứ?

Hít hơi tỏi

Dù luôn được xem là liều thuốc hữu hiệu tại nhà nhờ khả năng siêu kháng khuẩn và kháng virus, nhưng tỏi chưa được chính thức nghiên cứu nhiều. Một số bằng chứng cho thấy nó có khả năng giúp tránh cảm lạnh. Bạn cứ thử cho thêm tỏi trong khẩu phần ăn bữa tối của mình.

Ngủ
Giấc ngủ thúc đẩy chức năng miễn dịch của cơ thể, và đôi khi cảm lạnh có thể là dấu hiệu cho thấy bạn không ngủ đủ trong thời gian gần đây. Một nghiên cứu cho thấy những người ngủ dưới 7 tiếng mỗi đêm có nguy cơ bị cảm lạnh cao gấp 3 lần những ai ngủ đủ 8 tiếng trở lên.